Trận Malplaquet, năm 1709: Trận đánh đẫm máu nhất châu Âu trong vòng một thế kỷ

0
38

Trận Malplaquet, năm 1709 giữa người Pháp (Claude-Louis-Hector Villars) với khối Đại Liên minh (người Anh, người Hà Lan và người Đức). Với “chiến thắng kiểu Pyrros” của phe Liên minh, đây được coi là trận đánh đẫm máu nhất châu Âu trong vòng một thế kỷ cho đến trận Borodino năm 1812.

Vị vua Mặt trời

Louis XIV đã viết vào năm 1666: “Niềm đam mê lớn của tôi chắc chắn là tình yêu sự vinh quang”. Vinh quang hấp dẫn Louis nhất là vinh quang quân sự. Các vinh quang khác được thực hiện với tài năng cá nhân phi thường, nhưng để đạt được vinh quang quân sự, nhà vua chắc chắn phải kêu gọi các nguồn lực của toàn bộ đất nước. Pháp là một đất nước lớn, và nó có một quân đội xuất sắc. Quân đội Pháp sẽ thắng trong chiến tranh và vua Pháp sẽ đạt được vinh quang cá nhân. Vua Louis thấy điều này chẳng có gì lạ. Mặc dù ông không bao giờ nói: “Nhà nước chính là tôi”, nhưng ông có thể làm được điều đó. Với vua Louis, ông chính là nước Pháp, Charles II là vương quốc Anh, William of Orange là Các tỉnh thống nhất của Hà Lan. Tất cả tham gia vào một trò chơi lớn. Mục tiêu của trò chơi là vinh quang. Để đạt được vinh quang, những người cai trị của Pháp, vương quốc Anh, Hà Lan, Áo và Tây Ban Nha tham gia vào hàng loạt những trận chiến liên tiếp. Các quốc gia thay đổi sang phe khác, nhưng Pháp luôn luôn đối đầu với Hà Lan và thường đối đầu với Áo và vương quốc Anh. Tây Ban Nha – giữ cái vỏ vinh quang cũ của nó – đã cố gắng ở ngoài cuộc chiến, nhưng không thành công. Thụy Điển và các bang của Đức tham chiến vào những thời điểm có vẻ thích hợp.

Quan điểm về vinh quang của vua Louis chắc chắn không phải là “vinh quang và máu”. Máu và bùn chẳng có gì hấp dẫn đối với ông. Ông đi chiến dịch lần đầu tiên với một cái lều chỉ huy bằng lụa, được bố trí những phụ nữ quý phái trẻ đẹp. Ông đã kinh ngạc trước cách một số viên tướng lãng phí cuộc sống của người đàn ông. Trong trận chiến tiếp theo, ông bỏ lại các quý cô và mang theo một họa sĩ để vẽ lại những cảnh chiến thắng. Tuy nhiên, người hoạ sĩ bị cấm thể hiện bất cứ cảnh bạo lực nào. Vị vua Mặt Trời không hề hèn nhát. Trong chiến tranh Hà Lan lần thứ ba, vào năm 1673, chính Louis đã dẫn đầu cuộc tiến công cuối cùng vào pháo đài hùng mạnh của Maastricht. Nhưng Louis chống lại việc đổ máu không cần thiết và điều này đã góp phần tạo ra một xu hướng mới trong chiến tranh.

Vua Louis XIV
Vua Louis XIV. Ảnh: Wikipedia

Xu hướng mới này một phần là phản ứng lại sự quá giới hạn của cuộc Chiến tranh 30 năm (xem trận chiến Lutzen, năm 1632), khi những đội quân giận dữ dành cả một thế hệ để cố gắng tiêu diệt người Đức. Khi còn là một hoàng tử nhỏ, Louis đã thấy kiểu chiến tranh đó tận mắt. Ông lánh nạn khi những phe phái Pháp tàn phá miền quê trong cuộc chiến tranh tàn bạo của Fronde. Louis là một nhà lãnh đạo phong trào thay thế những băng đảng vô kỉ luật của cuộc chiến tranh trước đó, với những đội quân nhỏ của nhà nước được huấn luyện kĩ càng. Ông đã thăng chức cho những viên tướng như Viscount of Turenne – một bậc thầy về mưu lược, người thường có được một nửa chiến thắng những đối thủ trước khi phải tốn bất cứ viên đạn nào. Phát hiện lớn nhất của Louis là Sebastien le Prestre – con trai của một thường dân – người đã nhập ngũ làm một lính công binh. Vị vua trẻ nhận ra tài năng của người lính trẻ với vai trò một kĩ sư quân sự và đã thăng chức cao cho anh ta. Cũng như Sieur de Vauban, le Prestre hiện giờ được công nhận là công trình sư quân sự vĩ đại nhất trong lịch sử.

Thay vì cướp bóc miền quê, những đội quân mới dựa vào quân nhu dự trữ trong những kho kiên cố. Điều đó khiến bao vây trở thành một chiến lược quan trọng trong chiến tranh cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII. Trong mưu lược bao vây thì Vauban là vua. Kĩ thuật của ông chính xác đến mức khi chiến hào của ông tiếp cận một điểm nhất định trong thành lũy của một pháo đài, thì toàn bộ đơn vị đồn trú có thể đồng ý đầu hàng mà không tổn hại đến danh dự dù nhỏ nhất. Ở chiến trường, Turenne và những học trò của ông đã dùng mưu khiến quân địch bị cắt đứt với những kho dự trữ của họ, nếu không đầu hàng, thì cũng sẽ phải vội vàng rút lui. Cuộc chiến tranh không phải là không đổ máu, nhưng nó khác xa so với những cuộc tàn sát liên tiếp – đặc trưng cho những cuộc chiến tranh tôn giáo mới kết thúc trước đó.

Louis thành công đến mức ông trở thành “Vị vua Mặt Trời”, trung tâm của hệ Mặt Trời châu Âu, quay xung quanh ông là tất cả những người cai trị khác. Nhưng những người cai trị khác đã mệt mỏi với việc quay xung quanh vị vua của Versailles (cung điện của vua Louis). Sự giúp đỡ của Louis đối với tín đồ Hồi giáo Thổ Nhĩ Kì trong chiến tranh với kẻ thù người Áo của ông – Hapsburgs – đã đem đến cho họ một lí do để các nước còn lại hình thành Liên minh Augsburg.

Cuộc chiến tranh của Liên minh Augsburg – gồm tất cả các nước châu Âu, ngoại trừ Thổ Nhĩ Kì – đánh nhau với Pháp, là “cuộc chiến tranh thế giới” đầu tiên trong thời kì hiện đại. Cuộc chiến diễn ra ở châu Âu, châu Mỹ, Ấn Độ và trên biển. Turenne chết, lại có Marquis Louvois – Bộ trưởng Quốc phòng tài giỏi của Louis. Mặc dù Công tước của Lucxembua đã chứng tỏ là một nhà chiến thuật bậc thầy, nhưng Louis vẫn có Vauban. Nhưng vua đã già và mệt mỏi, vì chiến tranh đang làm cạn kiệt những nguồn tài nguyên của ông, vì vậy ông vui mừng kí một hiệp ước hòa bình để giữ lại hầu hết những chiến thắng của mình.

Việc kế thừa ngôi báu của Tây Ban Nha

Cuối cùng, vua Louis đã quyết định ngừng phá hoại hòa bình của châu Âu. Sau đó vua của Tây Ban Nha là Don Carlos II qua đời. Ông ta không có con. Người thừa kế gần gũi nhất của ông là con trai của hoàng đế Áo và là cháu trai của vua Louis XIV.  Trong di chúc của ông, Carlos đã nói rằng ông muốn ngai vàng của ông được truyền cho cháu trai của Louis là Công tước Anjou. Chiến tranh ngay lập tức bùng nổ với Áo. Vương quốc Anh và Hà Lan cảm thấy bị đe dọa bởi sự kết hợp quyền lực của Pháp và ngai vàng của Tây Ban Nha. Họ đã tham chiến cùng với Áo. Đan Mạch và tất cả các bang của Đức, ngoại trừ Bavaria, cũng tham gia.

Thêm vào những vấn đề khó khăn của Louis là các nguồn lực của ông bị hạn chế. Nhiều năm sống xa hoa, triều đình của ông đã làm cạn kiệt quốc khố. Hơn nữa, tất cả những người Pháp vĩ đại trong quá khứ – tất cả, ngoại trừ chính Louis – đều đã qua đời. Công tước của Lucxembua đã chết. Vua Louis bất hòa với Vauban về việc nhà vua đối xử với những tín đồ đạo Tin lành Pháp và nhà công trình sư vĩ đại đã về hưu.

Những kẻ thù cũ của vua Louis cũng đã qua đời. Nhưng đó không phải là một điều tốt cho Pháp. Kẻ thù lớn nhất của vua Louis là William of Orange – người đã dẫn đầu hết liên minh này đến liên minh khác chống lại ông, mà đầu tiên là lãnh đạo Các tỉnh thống nhất của Hà Lan, sau đó là vua của Liên hiệp vương quốc Anh và Ireland – đã chết. William là một nhà ngoại giao có tài, nhưng lại là một viên tướng không có năng lực, ưa thích gây chiến với một sự mạo hiểm và đã yêu cầu được lãnh đạo những đội quân chống Pháp. Thay thế William là John Churchill – Công tước của Marlborough, một trong những viên tướng có tài nhất từng mặc quân phục Anh. Những người Áo lại phát hiện một ngôi sao khác – một người Pháp là Hoàng tử Eugene của Savoy, người đã bỏ quê hương với lời thề sẽ không bao giờ trở lại, trừ khi đứng đầu một đội quân.

Trong một thời gian ngắn, có vẻ như vận may của vua Louis đã cứu ông một lần nữa. Khi Marlborough đang đánh nhau với Pháp ở Flanders, Claude-Louis-Hector Villars đánh bại người Áo và những đồng minh của họ ở Hochstett trong năm 1703. Villars mất 1000 người và những người ủng hộ hoàng đế Áo mất 11 000 lính. Nhưng Villars trở nên chán ghét đồng minh của ông là Elector Maximilian của Bavaria, vì vậy ông từ chức. Một vài người trong triều đình Pháp thấy tiếc vì sự ra đi của ông. Họ coi Villars là một người cục mịch, thô lỗ, khoác lác, ồn ào, nhưng ông có tài năng mà chẳng ai trong số những người kế nhiệm ông có được.

Marlborough đưa đội quân Hà Lan và đội quân ở miền nam nước Anh của ông gia nhập với những người Áo, di chuyển theo một con đường hoàn toàn đánh lạc hướng những người Pháp – người hi vọng đánh bại ông. Ông gặp Eugene và đưa quân Đồng Minh tới một chiến thắng khó nhọc với Pháp và Bavarians ở Blenheim. Marlborough, hóa ra là một viên tướng bình thường nhất của thế kỷ XVIII. Số thương vong của cả hai bên đều rất lớn. Anh và đặc biệt là Hà Lan rất choáng váng. Họ đã quản thúc  Marlborough chặt chẽ trong một thời gian ngắn. Villars là người chỉ huy mới đã có một số chiến dịch thành công ở Bliineland, nhưng trong năm 1706, Marlborough có cơ hội để thực hiện công việc phi thường của ông một lần nữa, ông đã đánh tan quân Pháp ở Ramillies và đuổi họ ra khỏi Hà Lan, Tây Ban Nha (gần nước Bỉ ngày nay). Một lần nữa, số thương vong rất lớn và những chính khách Hà Lan lại “trói” Marlborough lại.

Công tước Marlborough
Công tước Marlborough thứ nhất tranh sơn dầu bởi Adriaen van der Werff.

Quân Đồng Minh xâm lược Tây Ban Nha, nhưng cuộc viễn chinh đó nhanh chóng bị sa lầy. Công tước của Berwick – một tín đồ Thiên Chúa giáo người Anh chiến đấu cho Pháp ở Tây Ban Nha, đã đánh bại Bá tước của Galway – một tín đồ Tin Lành người Pháp với một khẩu hiệu của Ireland đấu tranh cho Anh để ủng hộ những người Áo. Người dân Tây Ban Nha ghét cay ghét đắng những kẻ xâm lược và bắt đầu cuộc chiến tranh du kích.

Tuy nhiên, năm 1708 Eugene đã đưa đội quân của ông xuống Bliine gia nhập với Marlborough. Họ đã đánh tan đội quân lớn của Pháp ở Flanders và xâm lược Pháp. Mùa đông năm đó, thời tiết lạnh nhất trong một thế kỷ. Ở Pháp, hạt lúa mì chết trên mặt đất và một nửa vật nuôi chết cóng. Pháp bại trận, những kẻ xâm lược nước ngoài thống trị một phần đất nước và nạn đói đang giết chết dân cư. Vua Louis XIV, vị quốc vương kiêu hãnh nhất thế giới – bị sỉ nhục. Ông đã thỉnh cầu hòa bình.

“Những kẻ thù của ta chứ không phải cháu ta”

Dưới sự chỉ đạo của người Hà Lan, quân Đồng Minh đưa ra cho vua Louis XIV tổng cộng 40 điều kiện để có hòa bình. Vua Louis sẽ phải từ bỏ tất cả đất đai xâm chiếm được của ông, ông sẽ phải dừng tất cả sự hỗ trợ cho cháu trai của ông ở Tây Ban Nha,… Nhưng yêu cầu cuối cùng khiến vị vua già bị sốc: Ông sẽ phải buộc cháu trai từ bỏ ngai vàng của Tây Ban Nha.

Khi thấy yêu cầu cuối cùng, vua Louis XIV đã nói: “Nếu có chiến tranh, ta sẽ chiến đấu với những kẻ thù của ta chứ không phải cháu ta”.

Sau đó, vua Louis XIV – biểu tượng của toàn bộ vương quốc trong thời kì của nền quân chủ tuyệt đối – đã làm một cuộc cách mạng.

Ông đến với những người dân thường của Pháp.

Ông đã viết một lời kêu gọi mạnh mẽ tới những người dân thường:

“Ta có thể nói rằng, ta đã làm ngược lại với tính cách của ta… để nhanh chóng giành được hòa bình cho dân chúng của ta ngay cả phải trả giá bằng lợi ích của bản thân và thậm chí có thể bằng cả danh dự của ta. Ta thấy không còn bất cứ sự lựa chọn nào khác ngoài việc chuẩn bị để tự bảo vệ chính mình. Để chắc chắn một nước Pháp thống nhất mạnh hơn so với tất cả các cường quốc tập trung bằng vũ lực và mưu mẹo để đánh bại nó… ta đến để yêu cầu… sự trợ giúp của các bạn trong cuộc đọ sức này, điều đó liên quan đến sự an toàn của các bạn. Chúng ta sẽ cùng nhau nỗ lực để kẻ thù hiểu rằng chúng ta sẽ không để bị bóc lột”.

Tiền được đổ vào quốc khố. Những người tình nguyện đổ xô đi đầu quân. Louis XIV trao chức chỉ huy quân đội cho Villars – viên tướng duy nhất dường như có khả năng thắng trận. Thắng trận với những tân binh chưa có kinh nghiệm sẽ không hề dễ dàng, nhưng Villars đã bắt tay vào nhiệm vụ biến họ thành một đội quân. Ông làm việc vất vả, nhưng những tân binh còn vất vả hơn.

 Viên tướng khoe khoang đã nói: “Tôi tự thấy mình tầm thường khi tôi nhìn thấy quân lính tập luyện khó nhọc mà không có thức ăn”.

Một số ít lính của Villars đã từng nhìn thấy một khẩu súng trường trước khi họ đáp lại lời kêu gọi của đức vua. Marlborough không ngừng huấn luyện những quân nhân của mình cách bắn súng. Họ bắn theo những trung đội thay vì theo hàng, giúp cho sĩ quan chỉ huy linh hoạt hơn. Marlborough còn dành nhiều thời gian hơn để đào tạo kị binh của mình và kị binh của Anh được nhìn nhận là thiện chiến nhất ở châu Âu. Người phó chỉ huy của ông là hoàng tử xuất sắc Eugene. Còn phó chỉ huy của Villars là Louis Francois – công tước của Boufflers, một người đã có tuổi, can đảm nhưng ốm yếu và thận trọng.

Khi mùa xuân bắt đầu làm tan băng các lãnh nguyên của Pháp đã đến, Marborough bắt đầu bao vây Mons. Một viên tướng bình thường, nhưng quân số đông hơn so với quân của Villars, sẽ chuẩn bị cho một cuộc bao vây. Bên cạnh đó, Villars cũng đã di chuyển để chặn đứng Marlborough ở chiến trường.

“Trận chiến rất dã man”

Villars củng cố một hàng ngũ trải giữa những dải đất rộng của vùng rừng. Những chiến thuật bộ binh thế kỷ XVIII ở châu Âu dựa trên việc giữ các hàng lính bộ binh được trang bị lưỡi lê hoàn toàn thẳng hàng khi những kẻ thù tiếp cận với nhau. Rừng gây ra khó khăn lớn với những chiến thuật như vậy.

Marlborough, bằng những gì ông đã thể hiện, không phải là một vị tướng điển hình trong thế kỷ XVIII như Villars. Sĩ quan chỉ huy bình thường trong thời đó sẽ cố gắng tiến công bên sườn quân Pháp và cắt đứt những nguồn tiếp tế của họ. Marlborough ao ước một cuộc chiến. Kế hoạch của ông là tiến công cả hai bên sườn hàng ngũ của quân Pháp, buộc Villars giảm bớt người ở trung tâm để củng cố bên sườn của mình. Sau đó, ông sẽ đánh mạnh vào phần trung tâm của quân Pháp.

Hình ảnh trận Malplaquet
Hình ảnh trận Malplaquet

Marlborough cử 20 000 lính Đức ở trong 40 tiểu đoàn chống lại hàng trung tâm của quân Pháp. Bất ngờ, họ quay và sải bước về khu rừng Taisiers – nơi bảo vệ bên sườn trái của quân Pháp. Sau đó, 40 phát súng đại bác của Đồng Minh – một số lượng khổng lồ tại thời điểm đó – được bắn vào rừng. Những người Đức tiến lên theo ba hàng, với súng trường và lưỡi lê trên vai, họ hành quân với những bước chân trang nghiêm, 80 bước một phút theo nhịp trống đánh. Họ đang sải bước qua 700m của vùng đất trống để chống lại một kẻ thù đang ẩn nấp trong rừng.

Trước khi họ đến được gần khu rừng, quân Pháp nổ súng. Một quả đại bác được bắn từ trong rừng đã phá hủy toàn bộ những hàng quân. Những quả đại bác khác được bắn từ trung tâm của quân Pháp đã đánh đổ những hàng lính bộ binh. Với tính cách bình tĩnh đến thản nhiên của bộ binh thế kỷ XVIII, những người lính Đức thu hẹp khoảng cách ở các hàng của họ và tiếp tục hành quân. Quân số của họ đông gấp 4 lần quân Pháp ở trong rừng. Pháo thủ Pháp đã thay đạn chùm và mỗi viên đạn đã đánh ngã hàng đám quân Đức. Khi những kẻ tiến công đến được tới mép rừng, quân Pháp đã nổ một loạt súng hỏa mai bắn vào họ và tiến công bằng lưỡi lê. Hai trong số ba thiếu tướng và tất cả những đại tá trong hàng đầu tiên của Đức đã bị giết. Hàng đầu tiên dồn trở lại đâm sầm vào hàng thứ hai và làn sóng lần thứ ba tiến lên tham gia chiến đấu. Pháp đưa quân dự bị của họ vào trận chiến.

Bên sườn kia, những binh lính Hà Lan và Scotland đã bắt đầu cuộc tiến công của họ sau những người Đức 20 phút. Một lần nữa, Pháp khai hỏa từ phía trước và bên sườn trải đầy trên mặt đất xác của quân Đồng Minh. Một đợt phản công của Pháp đã đẩy lui người Hà Lan và Scotland, nhưng ngay lúc đó một cuộc tiến công của người Hess đã cứu nguy cho bộ binh của quân Đồng Minh. Marlborough phải đưa những binh lính Anh từ khu trung tâm ra để ngăn chặn sự rối loạn ở cánh quân bên sườn.

Nhưng phía quân Pháp, Villars đã lấy lính ở khu trung tâm của mình để chặn những cuộc tiến công bên sườn. Villars bị trúng đạn khi ông đang dàn trận cho một đợt phản công. Ông ngã từ trên ngựa xuống, nhưng từ chối việc được đưa ra khỏi chiến trường. Ông ngồi trên một chiếc ghế chỉ huy trận chiến cho tới khi ông bất tỉnh. Boufflers tiếp quản.

Marlborough đi lên khu trung tâm của hàng quân và quan sát thấy những cái hào của quân Pháp bỏ trống. Ông cử lính kị binh của mình vượt qua. Các kị binh này vượt qua nơi đã là trung tâm của hàng ngũ quân Pháp, nhưng những con ngựa kiệt sức. Kị binh Pháp gặp họ và những con ngựa loạng choạng sau một cuộc chiến đấu không mang tính chất quyết định. Boufflers đã rút quân của ông theo trật tự.

Trận chiến đã kết thúc – đây là trận chiến đẫm máu nhất kể từ khi thuốc súng được phát minh. Chính Marlborough đã đề cập đến trận chiến này như là “trận chiến rất dã man”.

Sự phản công dữ dội

Quân Pháp đã mất 10 000 lính và quân Đồng Minh mất gần gấp 3 lần số đó. Trong số 80 tiểu đoàn người Hà Lan tham chiến, còn chưa đến 18 tiểu đoàn.

Villars viết cho Louis XIV: “Nếu Chúa vui lòng cho kẻ thù của bệ hạ một chiến thắng khác, thì chiến thắng ấy cũng bị tiêu tan”.

Louis XIV không chắc chắn về điều đó. Viên tướng giỏi nhất của ông đã bị thương nghiêm trọng, còn những kẻ thù của ông thì vẫn đang ở Pháp và mùa đông mới đến có vẻ sẽ dữ dội như mùa đông trước. Ông nói với thầy thuốc của mình: “Ta đau khổ vô cùng”.

Nhưng ông vui hơn một chút so với những người cai trị của vương quốc Anh và Hà Lan vì “hóa đơn cho việc tàn sát” của Marlborough quá cao.

Trận Malplaquet
Công tước Marlborough và Hoàng tử Eugene cố thủ. Ảnh: artuk.org

Hơn nữa, Villars đã hồi phục. Ở Tây Ban Nha, những người Tây Ban Nha đã đoàn kết theo cháu trai của vua Louis XIV là Philip V và đang đánh đuổi những kẻ xâm lược ra ngoài. Ở Pháp, những ngọn lửa của lòng yêu nước vẫn đang bùng cháy. Càng ngày càng có nhiều người Pháp tình nguyện nhập ngũ. Villars đã tiến công, Marlborough và Eugene cố gắng tránh cuộc chiến. Sau đó, người Anh chắc chắn sẽ không bao giờ có một Malplaquet khác. Họ triệu hồi Marlborough cùng các binh lính Anh và thiết lập một hòa ước riêng.

Villars tăng cường tiến công. Với một loạt những cuộc diễn tập đáng giá của Turenne hoặc Marlborough, chính ông đã đuổi Eugene và người Hà Lan ra khỏi Pháp và Flanders.

Trong sáu tuần, Eugene mất 53 tiểu đoàn và những thành lũy mà họ nắm giữ đã nhiều năm.

Tia sáng đầu tiên của bình minh

Cuộc chiến tranh này kết thúc đã đưa vua Louis XIV thoát khỏi sự đau khổ, nhưng Malplaquet còn có ý nghĩa quan trọng hơn với đất nước của ông và nền văn minh phương Tây. Lần đầu tiên, một quốc vương “bằng thiên mệnh” và trong tất cả các quốc vương, Louis XIV – người kiêu hãnh nhất trong tất cả bọn họ – đã phải đến với nhân dân. Những người dân thường của Pháp đã cứu nguy cho đất nước của họ. Họ đã chứng tỏ rằng quyền lực tối cao không phải ở một vị vua truyền cảm hứng một cách kì diệu, mà ở những người dân. Đó là một bài học được rút ra bởi những triết gia và nó đã được chứng minh thêm hai lần nữa trong thế kỷ này, đầu tiên qua Đại Tây Dương, sau đó một vài năm ở Pháp.

William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây