Trận Lepanto, năm 1571: Sự suy tàn của hải quân đế quốc Ottoman trên Địa Trung Hải

0
412

Trận Lepanto, năm 1571 là trận đánh giữa Hạm đội của Liên minh thần thánh đại diện cho Kito giáo và Hạm đội đế chế Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ). Các sử gia phương Tây đánh giá đây là trận hải chiến quan trọng nhất lịch sử Phương Tây.

Selim – kẻ nghiện rượu

Selim – kẻ nghiện rượu – đứa con trai không xứng đáng với Suleiman đại tài, muốn có một cuộc chinh phục của riêng mình. Điều cuối cùng ông ta muốn là cưỡi ngựa đứng đầu một đội quân, nhưng mục tiêu của ông là một hòn đảo, ông có thể cử một hạm đội đến đó trong khi ông vẫn an toàn ở Constantinople. Ông đang nghĩ về đảo Cyprus. Nhiều thế kỷ trước, những tín đồ Hồi giáo đã chiếm hòn đảo này và trục xuất các hiệp sĩ của St. John. Tuy nhiên gần đây hơn, khi mở rộng ra biển đế quốc, Venice đã lấy lại nó.

Venice và đế quốc Ottoman có một mối quan hệ khác thường. Nước cộng hoà Italy thỉnh thoảng gây chiến với Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng nước này lại là đối tác thương mại chính của Thổ Nhĩ Kỳ ở những nước theo đạo Cơ Đốc. Venice phụ thuộc vào hàng hóa phương Đông nó mua từ Thổ Nhĩ Kỳ rồi bán ở châu Âu. Venice đã thuyết phục quốc vương tiêu diệt Bồ Đào Nha – quốc gia đang tiến hành thương mại với Ấn Độ và Trung Quốc. Thổ Nhĩ Kỳ đã cố gắng thực hiện và thất bại (xem trận Diu, năm 1509). Thất bại của tín đồ Hồi giáo tại Diu đang bắt đầu ảnh hưởng tới cơ cấu quyền lực châu Âu. Họ không đủ mạnh để ảnh hưởng đến cha của Selim – người đã đưa đế quốc Ottoman – tới tới đỉnh cao quyền lực nhưng họ đang làm suy yếu Venice.

Mohammed Sokolli – một thời là tể tướng hàng đầu của Suleiman và bây giờ là tể tướng cho Selim – đã phản đối kế hoạch. Venice và vương quốc Pháp ở xa là những cường quốc Cơ Đốc giáo duy nhất thân thiện với Thổ Nhĩ Kỳ. Kẻ thù tự nhiên của Ottoman là đế quốc La Mã thần thánh của dân tộc German. Vương quốc Áo đối đầu với Thổ Nhĩ Kỳ ở biên giới phía tây của nó. Ở đầu kia của châu Âu, vương quốc Tây Ban Nha của Hapsburg, do cháu trai của hoàng đế cai trị, đang cố gắng xử lý một cuộc nổi dậy của tín đồ Hồi giáo. Giúp những kẻ nổi loạn này sẽ là một việc làm táo bạo xứng đáng. Sokolli nói Thổ Nhĩ Kỳ không cần Cyprus. Nếu Thổ Nhĩ Kỳ cố gắng chiếm Cyprus bằng vũ lực, nó có thể khiến tất cả các cường quốc Thiên chúa giáo liên hiệp chống lại nó.

Selim là một kẻ suy đồi đạo đức, nhưng chẳng có gì không ổn với trí óc của ông ta. Ông ta hỏi giáo sĩ của mình, là Ibn Sa’ud: “Khi một đất nước Hồi giáo đã bị chế ngự bởi những người không theo đạo thì nghĩa vụ của một hoàng tử ngoan đạo chẳng phải là lấy lại nó cho người Hồi giáo hay sao?”.

Nhà thần học này nói sự thực đúng là như vậy.

Sultan nói với Sokolli tín đồ Cơ Đốc giáo sẽ không có cơ hội liên hiệp. Họ không chỉ phân chia mà còn bị phân chia nhỏ hơn.

Venice không có những đồng minh trong những quốc gia theo đạo Cơ Đốc ở châu Âu vì mối quan hệ lâu dài của nó với Thổ Nhĩ Kỳ. Các vị vua và hoàng tử của nó cũng bị căm ghét bởi vì nó là một nước cộng hoà. Hơn nữa khi thương mại với phương Đông sụt giảm, nó đã mở rộng biên giới trên đất liền để có đất nông nghiệp. (Trước đây, nó chỉ dựa vào thương mại để tồn tại). Việc mở rộng đó khiến Venice xung đột với cả đế quốc La Mã và các nước của Giáo hoàng. Tây Ban Nha chỉ quan tâm tới đế quốc mới của nó ngang qua Đại Tây Dương và thương mại ở phía tây Địa Trung Hải. Chắc chắn nó không quan tâm đến thương mại với phương Đông của Venice. Trong thực tế, vua Tây Ban Nha, là Philip II, chuẩn bị nhấn mạnh lời khẩn cầu của ông với Bồ Đào Nha, một nước đang chiếm thương mại với phương Đông của Venice và những đối tác Thổ Nhĩ Kỳ. Tây Ban Nha, Venice và các nước của Giáo hoàng, tất cả thuộc về một nhánh của đạo Cơ Đốc, Thiên chúa giáo, đã xung đột gay gắt với một nhánh khác, là đạo Tin lành. Đế quốc La Mã thần thánh bị phân chia thành hai nhánh này và dường như đang đi tới một cuộc nội chiến có sức tàn phá ghê gớm. Tây Ban Nha cũng đang đấu tranh với những kẻ nổi loạn đạo Tin lành ở những tỉnh thuộc Hà Lan. Những tín đồ Thiên chúa giáo thậm chí không thèm giúp đỡ lẫn nhau. Vương quốc Pháp hùng mạnh là kẻ thù không đội trời chung của tất cả dòng họ vua Hapsburgs, ở cả Tây Ban Nha và đế quốc La Mã.

 Selim nói nếu Thổ Nhĩ Kỳ xâm lược đảo Cyprus thì nó sẽ chỉ phải đối phó với Venice.

 Vị giáo hoàng mới

Tín đồ Hồi giáo đã bị đánh bại ở Ấn Độ Dương, nhưng trong ý thức của người châu Âu thì những sự kiện ở Ấn Độ Dương không quan trọng. Thổ Nhĩ Kỳ đã không thành công trong việc chiếm Vienna, nhưng họ vẫn là cường quốc quân sự lớn nhất ở châu Âu và có vẻ như họ vẫn muốn chinh phục thế giới. Những hạm đội Thổ Nhĩ Kỳ chưa bao giờ ngừng việc chiếm những con tàu của người theo đạo Cơ Đốc và đột kích những bờ biển của người Cơ Đốc giáo. Sự tàn bạo của Thổ Nhĩ Kỳ đối với những kẻ thù của họ thậm chí càng ngày càng kinh khủng hơn. Những người dân thường của châu Âu, đặc biệt ở Trung Âu và trên bờ Địa Trung Hải, sống trong nỗi khiếp sợ những người Thổ Nhĩ Kỳ .

Những nhà lãnh đạo của họ thì không như vậy. Hoàng đế La Mã lo lắng về tín đồ đạo Tin lành chứ không phải tín đồ Hồi giáo. Vua Pháp lo lắng về dòng họ Hapsburgs, cả Tây Ban Nha và những nhánh của German. Vua Tây Ban Nha lo lắng về vua Pháp, đặc biệt là về những kế hoạch mở rộng hơn vào Italy của vua Pháp. Giáo hoàng lo lắng về tất cả bọn họ – Tây Ban Nha, Pháp và  German.

Năm 1566, Giáo hoàng mới, là Pius V, đã được bầu. Ông khác xa với mẫu rập khuôn của Giáo hoàng thời Phục hưng. Một người tu khổ hạnh với một cuộc sống cá nhân hoàn toàn trong sạch, ông có những điều lo lắng lớn hơn. Ông sợ tín đồ Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ có thể chiếm hết tất cả châu Âu. Quốc vương Selim cai trị một đế quốc kéo dài từ Trung Á ở hướng bắc tới vùng biên giới phía nam của Ai Cập và Yemen ở hướng nam, từ Mesopotamia ở hướng đông tới Morocco ở hướng tây. Thổ Nhĩ Kỳ vẫn tiến về phía trước và bây giờ họ đang đe dọa Venice. Pius bắt đầu cố gắng xây dựng một liên minh theo đạo Cơ Đốc để chống lại họ. Nhưng những ông hoàng châu Âu đã chống lại việc này.

Đảo Cypprus

Vào ngày 13 tháng 9 năm 1569, một xưởng thuốc súng ở Venetian Arsenal đã bị nổ. Vụ nổ làm đã gây ra một thảm họa lớn. Arsenal là trung tâm sức mạnh quân sự của Venice – nơi pha thuốc súng, đúc súng, đóng tàu và dự trữ tất cả các loại vũ khí.

Vị trí đảo Cyprus trong khu vực
Vị trí đảo Cyprus trong khu vực Địa Trung Hải (Ảnh: wikipedia)

Vụ nổ tồi tệ, nhưng những tin đồn về thiệt hại còn tồi tệ hơn khi nó được lan truyền từ người này qua người khác. Khi Selim biết về vụ nổ, ông nghĩ bây giờ có lẽ Venice không có khả năng phòng vệ. Selim cử 280 thuyền galê và những thuyền chiến khác với 85 con thuyền chở lính tới đảo Cypprus. Hạm đội này được chỉ huy bởi Piali Pasha – người đã thất bại trong việc chinh phục Malta (Trận Malta, 1565). Quân đội do Lala Mustafa Pasha chỉ huy. Lala Mustafa chỉ huy theo kiểu của Selim. Là thầy của quốc vương, ông đã đồng lõa với Selim là để sắp đặt cho anh trai Selim, Bayazid, bị Suleiman xử tử. Vào tháng 6, Lala Mustafa bao vây Nicosia.

Nicosia hầu như không phải là một pháo đài thành phố, nhưng lực lượng phòng thủ 10.000 lính Venice đã đắp những thành lũy làm bằng đất và không chịu đầu hàng. Vào đầu tháng 9, họ phá vây ra ngoài và đẩy lùi đội quân rất lớn của Thổ Nhĩ Kỳ, lấy được một số đồ ăn cướp trước khi bị đánh đuổi trở lại sau những cái hào của mình.

Trong khi đó, Giáo hoàng đã có Tây Ban Nha và Venice miễn cưỡng đồng ý hợp tác. Genoa tham gia cùng họ và các nước của Giáo hoàng ở trong “Liên minh Cơ Đốc giáo” như một số công quốc nhỏ hơn của Italy và những hiệp sĩ của St. John đã làm. Pháp bỏ ngoài tai lời của Giáo hoàng. Đế quốc La Mã cũng từ chối tham gia, mặc dù nó cho phép Philip của Tây Ban Nha tuyển mộ một số người lính German. Quân Liên minh làm thành một hạm đội liên hợp. Có nhiều cuộc tranh cãi nhỏ giữa họ mà chẳng đạt được cái gì.

Trên đảo Cypprus, mặc dù có số lượng áp đảo, những người lính Thổ Nhĩ Kỳ đã thể hiện rằng họ vẫn chưa hồi phục sau trận Rhodes. Lala Mustafa ra lệnh cho Piali Pasha cử binh lính từ hạm đội vào. Với sự bổ sung lực lượng lớn này, ông có thể tiến công ồ ạt vào Nicosia. Sau đó, ông đã tàn sát những binh lính phòng thủ và dân thường rồi chuyển đến Famagusta. Selim cử những lực lượng tiếp viện cho Lala Mustafa và mở rộng hạm đội, cho Ali Pasha chỉ huy.

Lính phòng thủ của Famagusta chỉ có 7.000 người, nhưng họ đã cầm cự với người Thổ Nhĩ Kỳ cho đến mùa đông. Marco Quirini – một đô đốc Venice – đã tiến công dữ dội vào hạm đội bao vây của Thổ Nhĩ Kỳ và lấy những đồ tiếp tế cho Famagusta, một hành động táo bạo khiến cho Selim chặt đầu một số lính Thổ Nhĩ Kỳ. Vào mùa xuân, Lala Mustafa tiếp tục những cuộc tiến công vào thành phố. Đến tháng 8, thành phố vẫn đang kháng cự và Lala Mustafa bắt đầu lo lắng về cái đầu của mình. Cuối cùng ông đã đề nghị với những binh lính phòng thủ ở Famagusta giống như những điều kiện mà Suleiman đã đề nghị với những hiệp sĩ Rhodes: nếu họ đầu hàng, họ và những người công dân sẽ không bị tổn hại và sẽ được chở đến vùng đất của đạo Cơ Đốc theo sự lựa chọn của họ. Họ đã đầu hàng.

Lala Mustafa không phải là Suleiman. Sau khi những người Venice đã hạ vũ khí, ông đã bắt những binh lính không có khả năng tự vệ làm nô lệ và phanh thây những người chỉ huy của họ – tất cả, ngoại trừ quan thủ hiến của Venice, là Antonio Bragadino. Lala Mustafa đã cắt tai và mũi của Bragadino. Sau khi áp giải Bragadino đi quanh thành phố, ông đã lột da Bragadino khi ông ta còn sống.

Don Juan

Selim không dừng lại với việc xâm chiếm đảo Cypprus. Bởi vì người Venice muốn chiến tranh, ông sẽ cho họ chiến tranh. Ông ra lệnh cho Ali Pasha tiến hành chiến tranh với Venice. Ali đi thuyền đến Adriatic và không thấy những con thuyền của Venice, ông đã đột kích mọi đồn binh của Venice dọc theo bờ biển với hình của Bragadino được nhồi da treo trên đầu xà ngang buồm con tàu đô đốc của ông.

Những người chiến thắng trận Lepanto (từ trái: Don Juan nước Áo, Marcantonio Colonna, Sebastiano Venier)
Những người chiến thắng trận Lepanto (từ trái: Don Juan nước Áo, Marcantonio Colonna, Sebastiano Venier) (Ảnh: wikipedia)

Ali không thấy bất cứ con tàu Venice nào, bởi vì tất cả bọn họ ở Sicily gia nhập với Tây Ban Nha và những đồng minh khác. Thất bại của Famagusta dường như đã tiếp sinh lực cho Liên minh của tín đồ Cơ Đốc giáo. Họ đang thực sự liên kết. Quan tổng trấn của họ, là Sebastiano Veniero, đã đích thân lãnh đạo những người Venice. Veniero là một người kế nghiệp xứng đáng với Enrico Dandolo – người hàng thế kỷ trước đã chỉ huy quân Thập tự chống lại Constantinople (xem trận Constantinople, năm 1203) ở tuổi 80. Veniero đã 75 tuổi. Ông hy vọng được chỉ huy hạm đội liên hợp, nhưng vua Philip của Tây Ban Nha – người đang trả một nửa chi phí cho chiến dịch muốn bổ nhiệm người chỉ huy. Philip đã chọn người em cùng cha khác mẹ với ông, là Don Juan của Áo, mới 26 tuổi làm chỉ huy.

Juan là con không chính thức của Charles V với con gái của một lái buôn người German, ông đã sống mà không biết đến họ hàng cho đến khi Philip trở thành vua và bổ nhiệm ông chỉ huy trong cuộc chiến tranh chống lại người Morisco. Don Juan đẹp trai, có uy tín, năng động và có khá nhiều kỹ năng quân sự. Quan trọng hơn, ông có sự khôn ngoan mà ít nhà lãnh đạo nào của quân Liên minh có được.

Ngay khi nắm quyền chỉ huy, Don Juan thay đổi cơ cấu của hạm đội. Không còn việc mỗi quốc gia sẽ có những con thuyền riêng. Ông đã kết hợp người Tây Ban Nha, Naples, Venice, German và Sicily thành hải đội trong hạm đội của mình. Đây là trận chiến lớn bằng thuyền galê cuối cùng trong lịch sử, những thuyền galê như thường lệ sẽ vào trận như những đội quân. Agustino Barbarigo của Venice sẽ chỉ huy cánh trái. Giovanni Andrea Doria của Genoa sẽ lãnh đạo bên cánh phải. Don Juan sẽ chỉ huy phần trung tâm. Đi bên trái thuyền của Don Juan là thuyền đô đốc của Doge Sabastiano Veniero còn bên phải là thuyền của Marco Antonio Colonna – đô đốc của giáo hoàng.

Don Juan trái với hầu hết đô đốc Địa Trung Hải, ông dường như đã nghĩ về bài học trong chiến dịch trên Ấn Độ của người Bồ Đào Nha. Trước mỗi hải đội, ông bố trí 2 chiếc thuyền chiến galleasses, những con thuyền thiếu những mái chèo nhưng đầy dẫy những súng. Họ đã nã đạn vào hạm đội Thổ Nhĩ Kỳ và phá vỡ thế trận của họ. Bởi vì mạn thuyền của Thổ Nhĩ Kỳ cao nên họ khó nhảy sang thuyền đối phương để tiến công. Ở hai bên mạn tàu thuyền galê có những khẩu đội pháo chính bắn qua những cái vòm.

Người Thổ Nhĩ Kỳ có nhiều thuyền chiến hơn, họ có 273 chiếc trong khi quân Liên minh chỉ có 231 chiếc nhưng trên mỗi con thuyền quân Liên minh lại có nhiều súng hơn. Những chiếc thuyền galê của Thổ Nhĩ Kỳ có ba khẩu súng bắn qua vòm, thuyền của Don Juan có bốn khẩu. Để khiến những khẩu súng có hiệu quả hơn, Juan đã cho thủy thủ bỏ những mũi nhọn trên những chiếc thuyền của họ. Mũi nhọn của một chiếc thuyền galê thời Phục hưng giống như một cái rầm neo buồm hơn là mũi đồng thau rẽ sóng trên một chiếc thuyền galê cổ điển. Mũi nhọn của thuyền thời Phục hưng được thiết kế để tấn công vào những mái chèo của kẻ thù thay vì đục lỗ trên thân chiến thuyền, vì vậy bỏ những mũi nhọn trên thuyền sẽ giúp tín đồ Cơ Đốc sử dụng súng của họ hiệu quả hơn.

Hạm đội Liên minh biết rằng Ali Pasha đã lui về vùng Vịnh Corinth – một vịnh hẹp dài ở sâu trong vùng đất của Hy Lạp bị người Thổ Nhĩ Kỳ chiếm giữ. Những con tàu của người Cơ Đốc đã khởi hành đến vịnh.

Trận Lepanto tranh sơn dầu của Paolo Veronese
Trận Lepanto tranh sơn dầu của Paolo Veronese (Ảnh: wikipedia)

Trận đánh Lepanto

Ali Pasha biết rằng những tín đồ Cơ Đốc giáo đang trên đường đến và đã chuẩn bị để đương đầu với họ ở gần thị trấn Lepanto. Ông cũng chia hạm đội của mình thành ba hải đội. Cả hai phe đều dọn sạch boong tàu và xếp hàng chồng đồ vật dọc theo mạn thuyền để chống lại những vật ném vào mạn tàu. Họ chất đầy các khoang tàu những khẩu súng đại bác có thể tháo ra, sau đó thay vào đó là những khẩu súng. Những người Thổ Nhĩ Kì lấy những cây cung còn những tín đồ Cơ Đốc chất lên đầy súng hỏa mai. Những người lính bố trí những nồi nung để ném vào boong của kẻ thù và những móc sắt dùng kéo thuyền địch lại gần để tiến công. Trên mỗi con thuyền, những người lính mặc áo giáp chuẩn bị chiến đấu với giáo và gươm.

Bởi vì Thổ Nhĩ Kỳ có nhiều thuyền hơn nên hàng ngang của họ sẽ lấn sang hàng bên phải của tín đồ Cơ Đốc. Doria, chỉ huy khu vực bên phải, đã tiến lên xiên sang bên phải để tránh bị tiến công vào bên sườn. Sau đó, những con thuyền của Doria không tiến đến gần tín đồ Hồi giáo nhanh như những con thuyền khác. Những con thuyền  bên cánh trái của người Cơ Đốc và thuyền bên cánh phải của người Hồi giáo gặp nhau đầu tiên. Mohammed Sirocco Pasha dự định tiến công vào sườn đội thuyền của Barbarigo bằng cách đi tới gần bờ biển. Người Venice không quen những chỗ nước nông nên họ vẫn ở xa bờ. Nhưng khi ông thấy người Thổ Nhĩ Kỳ chèo thuyền vào gần bờ, Barbarigo biết những con thuyền của ông cũng sẽ an toàn khi đến gần bờ.

Ông quay lại và tiến công những con thuyền Thổ Nhĩ Kỳ ở bên sườn. Marco Quirini, chỉ huy cánh phải của Barbarigo vây xung quanh và tấn công tàu Thổ Nhĩ Kỳ từ phía sau. Barbarigo đã bị giết trong cuộc chiến, và cháu của ông – người thay thế ông – đã bị giết gần như ngay sau đó, đã khiến những tín đồ đạo Cơ Đốc rơi vào tình trạng hỗn loạn. Nhưng Frederigo Nani và Quirini đã khôi phục trật tự, đẩy người Thổ Nhĩ Kỳ vào bờ và giết hoặc bắt giữ tất cả bọn họ.

Ở trung tâm, Don Juan và Ali Pasha đã đổi vị trí và tiến đến gần nhau. Hỏa lực từ những chiếc thuyền galê của Don Juan tiến công hiệu quả đến mức những tín đồ Hồi giáo vội vã chèo những con thuyền tránh xa, tự phá vỡ thế trận của mình. Những thuyền galê của Juan duy trì việc tiến công chậm rãi và bắn súng chính xác. Ali Pasha lái thuyền thẳng vào chiếc thuyền galê của Don Juan. Những người lính trên thuyền tiến công hai lần nữa nhưng đều bị đẩy lùi. Veniero đưa thuyền của mình vào cuộc hỗn chiến. Ở phía bên kia của Real – thuyền đô đốc của Don Juan, Colonna đã đốt một thuyền ga lê Thổ Nhĩ Kỳ sau đó tham gia trận chiến giữa những tàu đô đốc. Ali bị giết và toàn bộ phần trung tâm của Thổ Nhĩ Kỳ bị đánh tan tác.

Chiến Thuyền Gale
Chiến Thuyền Gale trong Trận Lepanto (Ảnh: wikipedia)

Trong khi đó bên cánh phải quân Hồi giáo – Uluch Ali, người đã cố gắng tiến công bên sườn Doria bất ngờ đổi ngược hướng và lái vào trong khoảng cách giữa hải đội của Doria và của Don Juan. Ông ta thâm nhập vào phía sau hạm đội của người Cơ Đốc và đánh bại vài thuyền galê. Doria vòng theo người Thổ Nhĩ Kỳ nhưng Marquis của Santa Cruz, là đô đốc Tây Ban Nha chỉ huy lực lượng dự bị đã đến đó đầu tiên. Don Juan kéo những thuyền galê Thổ Nhĩ Kỳ, bị bắt giữ ra xa, tháo dây ra và tiến tới Uluch Ali. Uluch Ali chạy trốn và tới một bến cảng Thổ Nhĩ Kỳ sau đó bị những tín đồ đạo Cơ Đốc bắt giữ.

Một thắng lợi tinh thần trong trận Lepanto

Mặc dù trận Lepanto không gây tổn thất nặng cho Hồi giáo như trận Diu, nhưng nó nổi tiếng hơn vào thời đó và hiện giờ nó vẫn còn được ghi nhớ nhiều hơn. Những người Thổ Nhĩ Kỳ – xuất hiện như hạm đội vô địch trên biển – đã bị đánh bại. Nó không chỉ là thất bại trong việc chiếm một thành phố: hải quân Thổ Nhĩ Kỳ gần như đã bị huỷ diệt.

Selim cố gắng tỏ vẻ xem thường nó. Ông nói: “Họ chỉ làm xước râu tôi”. Ông ra lệnh xây dựng một hạm đội mới và ra khơi ngay khi có thể. Đội thuyền mới đã được xây dựng nhưng nó được đóng bằng gỗ tươi chưa sấy. Nó bị thủng tồi tệ và những thủy thủ đoàn của nó cũng mới như gỗ. Hầu hết những lính thuỷ giàu kinh nghiệm của Thổ Nhĩ Kỳ đã nằm lại dưới đáy biển. Hạm đội mới của Selim không cố gắng tiếp tục gây chiến với người Cơ Đốc giáo. Nó tránh giao chiến.

Lepanto không phá vỡ sức mạnh của đế quốc Ottoman. Nhưng nó chấm dứt sự lo sợ về người Thổ Nhĩ Kỳ đã ngày càng tăng ở châu Âu trong nhiều thế kỷ. Kể từ đó, Thổ Nhĩ Kỳ chỉ là một cường quốc đối với người châu Âu – một cường quốc mà họ thấy càng ngày càng suy yếu.

William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây