Hải chiến Gravelines, 1588: “Hạm đội Bất khả chiến bại” Armada bị đánh bại

0
65

Hải chiến Gravelines năm 1588 giữa các bên tham chiến: Tây Ban Nha (Công tước của Medina Sidonia) với Anh (Đô đốc Howard of Effingham và Francis Drake). Với chiến thắng của Anh đã đưa Anh lên địa vị cường quốc trên biển trong suốt 400 năm lịch sử tiếp theo.

Những địch thủ bất đắc dĩ

Các vị vua đều không muốn chiến tranh. Giữa Nữ hoàng Elizabeth I của nước Anh và người anh rể Nữ hoàng là vua Philip II của Tây Ban Nha có một chút tình cảm, nhưng cũng có một chút ác cảm. Mối quan hệ này của họ đã kéo dài khá lâu. Khi nữ hoàng Anh mới bắt đầu sự nghiệp, Philip II đã ủng hộ bà không chỉ vì ông đã kết hôn với người chị cùng cha khác mẹ của bà là Mary, mà còn vì nước Anh sẽ là một nước đồng minh tốt nhất để chống lại Pháp. Pháp đang ủng hộ đối thủ của Elizabeth I là Mary Stuart của Scotland. Philip II thấy Pháp âm mưu tiếp quản Anh và Scotland đồng thời cắt đứt mối liên hệ của Tây Ban Nha với Hà Lan. Elizabeth I cũng xem Tây Ban Nha là một đồng minh. Nữ hoàng Anh có lí do chính đáng để lo sợ Pháp.

Nữ hoàng Elizabeth I
Nữ hoàng Elizabeth I. Ảnh: Wikipedia

Với các nước còn lại trên thế giới, Tây Ban Nha dường như là cường quốc lớn nhất ở châu Âu. Tây Ban Nha đã đô hộ những khu vực rộng lớn ở châu Mỹ, bao gồm những vương quốc giàu có, văn minh ở Mêhicô, Trung Mỹ và Peru. Philip II vừa thôn tính Bồ Đào Nha và nắm giữ những vùng đất rộng lớn của Bồ Đào Nha ở châu Phi và châu Á. Bộ binh của Philip II được xem là thiện chiến nhất châu Âu và hiện giờ quân đội Tây Ban Nha do Alessandro Farnese – công tước của Parma, viên tướng xuất sắc nhất của Philip II – chỉ huy.

Tuy nhiên, Philip II biết mặt trái của câu chuyện. Dân số của Tây Ban Nha ít hơn Pháp và những nguồn tài nguyên cũng ít hơn. Phần lớn nhất của bán đảo là những đồng bằng khô cằn giống như đồng bằng ở Bắc Phi. Phần còn lại hầu hết là núi. Đất nước của Philip II không giàu có như đối thủ của ông ngang qua dãy Pyrenees. Nguồn tài nguyên lớn nhất của Tây Ban Nha là vàng và bạc ở châu Mỹ mà Philip đã dùng để trả cho đội quân tuyệt vời của mình. Tuy nhiên, chi phí cho một đội quân như vậy rất đắt đỏ và đôi lúc những người lính còn chưa được trả tiền kịp thời. Khi việc đó xảy ra, họ có thể nổi loạn và tàn sát dân thường mà không cần bất cứ lí do gì. Cách cư xử như vậy khiến nhiệm vụ dập tắt cuộc nổi dậy ở Hà Lan, vốn đã khó khăn, càng trở nên bất khả thi. Bên cạnh cuộc nổi dậy, ở Hà Lan còn có nhiều sự chia rẽ. Tây Ban Nha là một tập hợp những vương quốc đã thống nhất được gần một thế kỷ. Tuy nhiên, những người Bồ Đào Nha chưa bao giờ coi bản thân họ là người Tây Ban Nha. Philip II có quyền tối cao quyết định ngôi vua của Bồ Đào Nha nhưng lựa chọn của ông không phải là lựa chọn của nhân dân Bồ Đào Nha. Ông phải đấu tranh để giành được ngai vàng.

Ở Hà Lan, Parma thắng liên tiếp, nhưng những kẻ nổi loạn không bao giờ bỏ cuộc. Đó là cuộc chiến tranh tôn giáo. Những kẻ nổi loạn là người theo thuyết Calvin, còn binh lính của Philip là tín đồ Cơ Đốc. Cuộc chiến tranh này tàn bạo giống như tất cả những cuộc chiến tranh tôn giáo khác diễn ra vào thế kỷ XVI và XVII ở châu Âu. Những nhà thờ bị đốt, thành phố bị cướp phá và đặc biệt là giới tăng lữ bị tàn sát bởi cả hai bên. Những cư dân vùng đất thấp không địch được với bộ binh của Philip II, nhưng họ có hải quân với những con thuyền hoạt động ở vùng nước nông, có thể vượt trội tàu Tây Ban Nha trên biển khơi cũng như vượt qua cửa sông và các dòng sông mà những con thuyền của Philip II không thể đuổi theo. Philip II đã quá bận bịu ở Hà Lan. Ông không đủ khả năng để bắt đầu một cuộc chiến tranh mới.

Elizabeth I cũng vậy. Nữ hoàng Anh đã nói bà không thể bắt đầu một cuộc chiến tranh mới. Sau đó, trong cuộc chiến tranh này, đô đốc của bà đã liên tục xin cấp lương thực cho những người lính. Nghị viện Anh miễn cưỡng bỏ phiếu thông qua các loại thuế mới để hỗ trợ cho cuộc chiến tranh. Những người biện hộ cho Elizabeth I nói bà đã buộc phải dựa vào ngân sách của gia đình bà. Tuy nhiên, nữ hoàng Anh có thể dễ dàng ủng hộ cho hải quân của bà giống như cách bà dành tiền hằng năm để mua quần áo. Hơn nữa, vị nữ hoàng tiết kiệm này không bỏ lỡ một cơ hội nào để kiếm tiền. Bà hợp tác cùng John Hawkins trong việc buôn bán nô lệ. Thực tế, việc này là một nguyên nhân dẫn đến xích mích giữa Anh và Tây Ban Nha. Ở những lãnh thổ của Tây Ban Nha, việc buôn bán nô lệ do chính quyền độc quyền. Hawkins và Elizabeth I đang làm giảm lợi nhuận của Philip II. Khi mối quan hệ giữa Anh với Tây Ban Nha trở nên căng thẳng hơn, Elizabeth đã hợp tác một cách thầm lặng với các đô đốc cướp biển là Francis Drake, Martin Frobisher và Hawkins – người cướp bóc những con thuyền đầy của cải quý giá của Tây Ban Nha. Drake và những người khác không hạn chế hoạt động của họ ở Spanish Main (bờ biển đông bắc của Nam Mỹ và vùng biển Caribê gần bờ sát đó). Họ cướp những con thuyền Tây Ban Nha ở vịnh Biscay và eo biển Manche, phá hoại nỗ lực của Tây Ban Nha để tiếp tế cho những binh lính Tây Ban Nha ở đất nước Hà Lan. Những nhà chức trách Tây Ban Nha ở Hà Lan nhiều lần kêu gọi Philip II xâm chiếm nước Anh và chấm dứt những cuộc tiến công vào nguồn tiếp tế của họ. Philip II đã từ chối nhiều lần.

Elizabeth I cũng phải đấu tranh với những kẻ hiếu chiến. Nhà sử học Camden viết: “Quân đội và lính thủy trên khắp nước Anh khó chịu và mong muốn chiến tranh với Tây Ban Nha. Nhưng nữ hoàng không nghe họ”. Những tên cướp biển và những người buôn nô lệ muốn pháp luật bảo vệ cho hoạt động của họ và họ muốn có thêm sự ủng hộ của một quốc gia. Một nhóm khác ở nước Anh ủng hộ chiến tranh là những người theo thuyết Calvin. Nước Anh lúc đó bị phân chia thành những người theo thuyết Calvin, tín đồ Công giáo Anglo và Công giáo La Mã. Những người theo thuyết Calvin ở Anh muốn giúp tất cả những người theo thuyết Calvin ở lục địa châu Âu, đặc biệt là những người nổi loạn ở Hà Lan và những người Pháp theo đạo Tin lành. Tuy nhiên, sự chia rẽ tôn giáo ở Anh là một lí do khác khiến Elizabeth I muốn tránh chiến tranh.

Một sự thay đổi chính sách

Những chiến thắng của Parma ở Hà Lan gây nên một nỗi lo sợ mới cho Elizabeth I. Bà lo sợ những kẻ nổi loạn sẽ đề nghị với vua Pháp về chủ quyền của Hà Lan. Mặc dù là một tín đồ Cơ Đốc giáo, vua Pháp là kẻ thù từ xưa của Tây Ban Nha và triều đại của ông từ lâu đã thèm muốn đất nước Hà Lan – nơi Pháp có mối quan hệ họ hàng và ngôn ngữ. Vì vậy, Elizabeth cố gắng hết sức để giữ cho cuộc nổi loạn tiếp diễn. Philip II phẫn nộ đến mức ông khuyến khích một âm mưu lật đổ nữ hoàng của người theo đạo Cơ Đốc. Lúc này, Elizabeth I thấy kẻ thù chính của bà không phải là Pháp mà là Tây Ban Nha. Nữ hoàng Anh đã tham gia một liên minh phòng thủ với một người phụ nữ đầy quyền lực khác ở bên kia eo biển Manche là Catherine de’Medici. Pháp đã tham chiến. Catherine cử một hạm đội dưới sự chỉ huy của Filippo Strozzi đi cùng với Dom Antonio – người đòi ngai vàng của Bồ Đào Nha – đi chiếm giữ Azores. Dưới sự chỉ huy của hầu tước Santa Cruz, hạm đội Tây Ban Nha đã đánh tan tác hạm đội Pháp vào năm 1582. Năm sau, một hạm đội khác của Pháp dưới sự chỉ huy của Aymard de Chaste, một lần nữa đưa Dom Antonio vào cuộc chiến. Lần này, những con tàu của của Santa Cruz đã tiêu diệt hạm đội Pháp.

Những chiến thắng này khiến Santa Cruz tự tin đến mức ông viết thư cho vua Philip II để thúc giục nhà vua xâm chiếm nước Anh.

Philip II lại từ chối, nhưng quan hệ của Tây Ban Nha với nước Anh ngày càng tồi tệ hơn. Elizabeth I đã cử Drake và hải quân cướp biển của bà ta tới tàn phá vùng Tây Ấn của Tây Ban Nha. Sau đó, bà cử 5000 lính do bá tước Leicester chỉ huy tới giúp những kẻ nổi loạn Hà Lan.

Hạm đội Anh trong trận hải chiến Gravelines năm 1588
Hạm đội Anh. Ảnh: Lịch sử có gì hay.

Philip II đã xem xét lại kế hoạch của Santa Cruz. Vị hầu tước đã đề xuất một hạm đội khổng lồ với một đội quân đi từ Lisbon tới xâm lược trực tiếp nước Anh. Cuối cùng, Philip II cũng đồng ý, nhưng ông đã điều chỉnh kế hoạch. Hạm đội Tây Ban Nha đã dọn đường trên eo biển Manche, vì vậy Parma và hầu hết đội quân đã ở Hà Lan có thể vượt qua eo biển vào xâm chiếm nước Anh. Trong khi Philip II đang tập hợp những con thuyền, Elizabeth I chú ý đến một kẻ nội gián: Bà đã cho chém đầu Mary của Scotland.

Nước Anh không bị xâm lược

Ngày 30 tháng 1 năm 1588, hầu tước Santa Cruz – đô đốc tài năng nhất của Tây Ban Nha đột ngột qua đời. Vì một số lí do mà chỉ mình Philip II biết, Philip II đã bổ nhiệm công tước Medina Sidonia thay thế Santa Cruz. Medina Sidonia chưa từng ở trong hải quân cũng như quân đội.

Elizabeth I có 34 con thuyền trong đội hải quân riêng của bà, nhưng Drake cũng có số thuyền gần tương đương. Nữ hoàng Anh kêu gọi Drake và những tên cướp biển khác cũng như tất cả những thuyền buôn được vũ trang tham gia đội quân Anh. Bà bổ nhiệm đô đốc Howard of Effingham làm tổng tư lệnh hạm đội Anh. Những con thuyền lớn nhất của Anh ngang bằng những con thuyền lớn nhất của Tây Ban Nha, nhưng chúng cơ động chậm hơn. Tổng cộng, Anh có thể cử 172 con thuyền đến Tây Ban Nha. Tây Ban Nha có 489 khẩu súng tầm ngắn, cỡ nòng lớn, trong khi Anh chỉ có 98 khẩu; nhưng Anh lại có nhiều súng hạng nhẹ tầm xa hơn Tây Ban Nha – Anh có 1874 khẩu còn Tây Ban Nha có 635 khẩu. Hạm đội Tây Ban Nha bao gồm thuyền galê và thuyền chiến được trang bị những mũi để đâm và có số bộ binh lớn. Tuy nhiên, Tây Ban Nha là một cường quốc ở Địa Trung Hải và trong trận chiến bằng thuyền galê mới đây – trận chiến Lepanto – Tây Ban Nha đã chiến thắng. Tây Ban Nha cũng như Anh đã không học được những bài học từ trận chiến Diu (xem trận Diu, năm 1509), mặc dù những người chiến thắng trong trận Diu là người Bồ Đào Nha. Anh chưa bao giờ mạnh về chiến thuật đâm và tiến công trong cuộc chiến tranh bằng thuyền galê, biển động xung quanh hòn đảo của họ đã khiến kiểu chiến tranh đó không khả thi. Và lính thủy Anh đã không hoài nghi khi nghe chuyện các pháo thủ Bồ Đào Nha đã phá hủy những thuyền galê của người Thổ Nhĩ Kì và Ai Cập bên ngoài bờ biển Ấn Độ như thế nào.

Hạm đội Tây Ban Nha, được biết đến là “Armada”, đã khởi đầu bất lợi. Sau khi ra khơi, Medina Sidonia phát hiện ra rằng phần lớn lương thực của ông đã thối rữa và những thùng nước bị rò. Nhiều người lính của ông đã ốm. Ông yêu cầu Philip II hoãn cuộc viễn chinh một năm. Philip II từ chối hoãn cuộc chiến, nhưng đã gửi đến những đồ tiếp tế mới. Ngày 19 tháng 7, một con thuyền do thám của Anh đã nhìn thấy hạm đội Armada đi vào eo biển Manche. Hạm đội Tây Ban Nha thấy con thuyền cảnh giới nhưng không phải là hạm đội Anh. Alonzo de Leyva – chỉ huy phó của Medina Sidonia – đề nghị tiến thẳng vào Plymouth, căn cứ của quân Anh và tiến công họ trước khi họ có thể tới biển khơi. Tây Ban Nha mạnh về chiến thuật đâm và tiến công, kiểu tiến công này thích hợp nhất với những đường thủy hẹp. Tuy nhiên, Medina Sidonia nói nhà vua đã ra lệnh cho họ đi qua eo biển Manche và gặp Parma.

Hạm đội Armada
Hạm đội Armada

Cuộc chiến bắt đầu vào ngày hôm sau. Những con thuyền Anh chiếm giữ “hướng đi theo chiều gió”, điều đó có nghĩa họ đón được gió trước hạm đội Tây Ban Nha, giúp cho họ có lợi thế về cơ động. Những con thuyền Tây Ban Nha tập trung thành ba đội: đội tiên phong, đội chiến đấu chính và đội phía sau. Hạm đội Anh dàn thành một hàng và lướt nhanh tới chỗ hạm đội Tây Ban Nha, tất cả các súng ở bên mạn thuyền đều nhả đạn ở tầm xa. Tây Ban Nha đáp trả bằng những trọng pháo nhưng ít gây thiệt hại, bởi vì hạm đội Anh ở ngoài tầm bắn hiệu quả.

Hạm đội Anh cũng không gây được thiệt hại nặng cho hạm đội Tây Ban Nha như họ mong đợi, vì những súng tầm xa là súng hạng nhẹ. Mặc dù vậy, hạm đội Anh vượt trội hoàn toàn hạm đội Tây Ban Nha. Họ đã triển khai thành hàng, giúp họ có thể sử dụng tối đa các khẩu súng của mình. Trong khi đó, hạm đội Tây Ban Nha chụm lại vì những khẩu súng bị chặn bởi chính hạm đội tàu của họ. Hơn nữa, trọng pháo của Tây Ban Nha nhằm thẳng về phía trước, cách hiệu quả nhất để thực hiện chiến thuật tiến công thẳng của thuyền galê. Còn súng của Anh xếp dọc theo hai bên mạn thuyền của họ, cho phép nổ súng ở bên sườn. Thuyền của Anh có thể chạy xung quanh đội hình hạm đội Tây Ban Nha và tiến công những con thuyền ở đội phía sau. Để đương đầu với họ, toàn bộ hạm đội Tây Ban Nha phải đổi ngược hướng, điều này không dễ thực hiện khi họ đã dàn trận.

Hạm đội Anh cùng một lúc tập trung hỏa lực của họ vào một con thuyền. San Salvador, con thuyền chở người phát lương và tiền lương của Armada, đã trúng đạn và nổ. Hai con thuyền Tây Ban Nha khác bị vô hiệu hóa. Mất tiền lương của lính thủy là một vấn đề nghiêm trọng đối với Medina Sidonia. Mặc dù vậy, nó không nghiêm trọng bằng tổn thất thuốc súng và lãng phí đạn do bắn ra ngoài tầm của những con thuyền Anh. Medina Sidonia cần phải vào một cảng thuận tiện để tiếp đạn.

Howard cũng nhận ra điều đó và ra lệnh truy đuổi quyết liệt người Tây Ban Nha khi đêm xuống. Drake sẽ chỉ huy cuộc truy đuổi, vì vậy ông thắp một ngọn đèn lồng khổng lồ ở đuôi con thuyền đô đốc của mình là thuyền Revenge, và khởi hành. Đột nhiên, ngọn đèn phụt tắt và những người Anh đuổi theo trở nên hỗn loạn. Thật ra lúc đó, Drake thấy một con thuyền đã bị phá hỏng của Tây Ban Nha. Bản năng cướp biển đã chiến thắng trong ông và ông dừng lại để cướp của cải trên thuyền. Ông tắt đèn lồng để ông không phải chia sẻ của cải cướp được với những thuyền trưởng khác.

Martin Frobisher đã viết: “Ông ta nghĩ cách lừa chúng tôi về phần 15 000 đồng ducat, nhưng chúng tôi sẽ có phần của chúng tôi, hoặc tôi sẽ khiến bụng ông ta mất nhiều máu nhất”.

Trận hải chiến Gravelines năm 1588
Trận hải chiến Gravelines năm 1588

Sự rối loạn của quân Anh giúp Medina Sidonia có thời gian tổ chức lại hạm đội. Ông kiểm tra các nguồn dự trữ của mình, vẫn còn đủ đạn nên ông quyết định giao chiến với người Anh, nhưng ngày hôm sau cả hai hạm đội đều đứng yên. Ngày tiếp theo, gió lại bắt đầu và lần này hạm đội Tây Ban Nha có hướng đi theo chiều gió. Theo báo cáo của Howard: “Có thể nói chưa bao giờ sức mạnh của những viên đạn khủng khiếp như vậy và cũng chưa bao giờ có một trận chiến dữ dội như vậy”. Tuy nhiên, cả hai bên đều thiệt hại ít. Mặc dù đã có đủ đạn, nhưng người Anh vẫn cử những con thuyền vào bờ để lấy thêm đạn trong khi hạm đội Tây Ban Nha bận rộn đối phó với những thuyền buôn được vũ trang. Hạm đội Tây Ban Nha vẫn ở gần phía nam lối vào eo biển Manche mà không đến được một cảng thuận tiện nào. Medina Sidonia cử một con thuyền báo tin cho Parma, bảo rằng ông sẽ đến sớm. Sau đó hạm đội Tây Ban Nha vì không còn đạn nên đã chạy trốn vào eo biển Manche, hạm đội Anh đuổi theo. Medina Sidonia vẫn có 124 con thuyền. Hạm đội của Howard đã phân tán trong cuộc chiến và tái cung cấp để tiếp tục hoạt động, nhưng ông vẫn có 136 con thuyền. Medina Sidonia cho hạm đội Armada neo đậu ở vùng nước hẹp bên ngoài Calais. Ông muốn thuyền của Anh tới gần để ông có thể đâm và tiến công. Tuy nhiên, người Anh đã chọn 8 con thuyền của họ, đốt cháy chúng và lựa chiều gió để chúng đi thẳng đến chỗ hạm đội Tây Ban Nha. Cùng lúc đó, một người đưa tin do Parma cử đến nói rằng ông không thể đưa thuyền chở lính và thuyền đổ bộ gặp hạm đội Armada ít nhất trong hai tuần tới. Thật ra, hạm đội của những kẻ nổi loạn người Hà Lan đã giữ chân lực lượng của Parma ở bến cảng.

Khi người Tây Ban Nha thấy những con thuyền bốc cháy tiến đến gần, họ hoảng sợ. Họ cắt dây neo và ra khơi. Một chiếc thuyền galê của Tây Ban Nha mang tên Capitana, bị mắc trên bãi biển. Sau đó, Howard đã bộc lộ rằng một đô đốc của nữ hoàng cũng có thể bị cám dỗ bởi việc cướp đồ như bất cứ tên cướp biển nào. Ông chỉ huy một cuộc tiến công vào Capitana và chiếm nó sau một cuộc chiến khó nhọc. Trong khi đó, phần còn lại của hạm đội Armada đã đi khuất về phía bắc, được đẩy bởi một cơn gió mạnh từ hướng nam. Hạm đội Anh cuối cùng cũng đuổi kịp Armada và có nhiều cuộc giao chiến nữa, nhưng không còn cơ hội cho việc xâm lược nước Anh.

Kết thúc của hạm đội Armada

Thậm chí thời tiết đã chống lại Armada. Một cơn gió dữ dội từ hướng nam khiến hạm đội Tây Ban Nha không thể đi ngược hướng và cố gắng tới chỗ Parma. Để trở về Tây Ban Nha, những con thuyền của Armada phải đi vòng quanh mũi đất phía bắc Scotland. Hơn nữa, họ không chỉ hết đạn, mà lương thực và nước uống của họ cũng hết. Thời tiết trở nên tồi tệ hơn. Nhiều lính thuỷ bị ốm, những người khác yếu đi bởi thiếu thức ăn. Họ cũng không còn đủ những con thuyền trong thời tiết xấu. Tổng cộng Medina Sidonia đã mất 63 con thuyền, hầu hết bị chìm trên bờ biển Scotland và Ireland.

Trận hải chiến Gravelines năm 1588
Trận hải chiến Gravelines năm 1588

Số phận của hầu hết những con thuyền bị mất không được biết đến. Winston Churchill và một số tác giả khác nói rằng những con thuyền này mắc cạn ở Ireland và những “người Ireland man rợ” đã tàn sát đoàn thủy thủ – giả thuyết ấy khiến chúng ta liên tưởng rằng lúc đó Ireland là nơi những kẻ ăn thịt người sinh sống, họ không mặc quần áo và thường giết tất cả những người lạ. Một số người Tây Ban Nha bị đắm tàu ở Ireland đã rơi vào tay lính Anh và thực sự họ đã bị giết. Những người khác có lẽ cũng chịu chung số phận khi bị O’Flahertys – lãnh chúa phong kiến ở khu vực Connemara của Ireland tìm thấy. “O’Flahertys tàn bạo” đã kiểm soát 11 lâu đài ở phía tây Ireland, nhưng họ muốn lấy lòng nước Anh. Họ đã treo cổ những lính thủy bị đắm tàu. Tuy nhiên, văn học dân gian Ireland luôn cho rằng hầu hết những người sống sót trong hạm đội Armada có một số phận khác. Giống như người Pict, Norman, Gael, người xứ Wales và tất cả những dân tộc khác ở trên hòn đảo này, những người sống sót trong hạm đội Armada trở thành người Ireland và ngày nay những hậu duệ của họ vẫn sống ở Ireland.

Philip II chấp nhận thất bại này như ý muốn của Chúa. Thay vì đổ lỗi cho Medina Sidonia, Philip II phục chức cho ông ta làm thống đốc của Cadiz. Nữ hoàng Elizabeth I ăn mừng việc chấm dứt mối nguy hiểm từ Tây Ban Nha bằng cách cắt giảm thu nhập của lính thủy. Vào ngày 8 tháng 8, một tuần sau khi hạm đội Armada đi khỏi, Howard viết cho những bộ trưởng của nữ hoàng: “Tôi cầu xin Chúa lắng nghe mong muốn có lương thực của chúng tôi”. Hai ngày sau, ông viết: “Số người ốm và chết đang tăng nhanh trong chúng tôi và thật đáng tiếc khi phải trông thấy ở đây – tại Margate những người không có nơi nương tựa đã chết trên phố”. Vào ngày 29 tháng 8, ông viết: “Thật đáng thương cho những người lính chết đói sau khi phục vụ trong quân ngũ… vì vậy xin nữ hoàng hãy bỏ tiền để cứu giúp họ, đừng để họ rơi vào cảnh cùng quẫn”.

Thành quả của chiến thắng

Thất bại của Armada đã trở thành một cột mốc trong văn học dân gian Anh. Bạn sẽ ngạc nhiên nếu chỉ nhìn vào những kết quả tự nhiên. Đó là một trận chiến hải quân kéo dài. Người Anh có một hạm đội xuất sắc, tốt hơn Armada, nhưng điều đáng chú ý nhất trong trận chiến này là qua một tuần chiến đấu mỗi bên đều bị thiệt hại ít. Giống như Kamikaze, hay ngọn gió thần thánh, đã phá hủy hạm đội của Khan Kublai bên ngoài Nhật Bản, thời tiết đã gây thiệt hại lớn nhất cho hạm đội Tây Ban Nha. Tất nhiên nước Anh đã không bị xâm lược. Danh tiếng của trận chiến đã vang xa tới những người nổi loạn ở Hà Lan cũng như những lính thủy Anh.

Trận chiến Armada đã ảnh hưởng tới chiến lược của hải quân. Alfred Thayer Mahan đã chỉ rõ tầm quan trọng của những trạm lấy than trong thời đại mà những con tàu chạy bằng hơi nước, chỉ ra khi hải quân ở trên tàu, họ có thể đi bất kì chỗ nào nhưng những con tàu hiện đại cần căn cứ để có thể tiếp nhiên liệu. Dù những con tàu không cần nhiên liệu thì họ cũng cần đạn dược để chiến đấu. Trận chiến Armada đã chứng tỏ cần phải có những căn cứ thuận tiện ở gần địa điểm cuộc chiến. Từ đó trở đi, chiến lược lớn của Anh luôn tập trung vào việc bảo đảm những bờ biển thuận tiện ở gần những hòn đảo quê nhà.

Quan trọng nhất, việc đánh bại hạm đội Armada đã khiến người Anh tự tin hơn. Những cư dân của một hòn đảo không gây ấn tượng ở Biển Bắc đã quyết định họ phải là một cường quốc và tiếp tục hành động một cách phù hợp. Họ đã xây dựng một đế quốc tồn tại gần 400 năm và làm lu mờ đế quốc của Alexander, của người La Mã, thậm chí làm lu mờ cả đế quốc của Thành Cát Tư Hãn.

William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

[1] Biển Manche (tiếng Anh: The English Channel – Kênh biển Anh; tiếng Pháp: La Manche – tay áo, phiên âm tiếng Việt: Biển Măng-sơ) là một đoạn biển dài thuộc Đại Tây Dương xen giữa đảo Anh và bờ biển phía bắc của Pháp, liền với Bắc Hải. Biển này dài 562 km, chỗ rộng nhất 240 km, chỗ hẹp nhất là 34 km (eo biển Dover). Biển Manche là biển cạn nhỏ nhất chung quanh châu Âu, chiếm diện tích khoảng 75.000 km².

Xem thêm:

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây