Trận hải chiến Diu, năm 1509: chiến tranh thương mại trên Ấn Độ Dương

0
240

Trận hải chiến Diu, năm 1509 giữa Bồ Đào Nha (Francico de Almeida) với Thổ Nhĩ Kì và Ai Cập (Husain Kurdi) đã ảnh hưởng đến thương mại với Viễn Đông và Ấn Độ cùng sự thăng trầm của đạo Cơ Đốc, đạo Hồi.

Người Frank trên biển

Lãnh thổ của đế quốc Francia của người frank, 481–814 SCN. (Ảnh: wkipedia)

Nhà ghi chép biên niên sử người A Rập, Ba Fakhi al – Shihri đã viết: “Kansuh al-Ghawri lên làm vua Ai Cập, ông đã cử một hạm đội tàu hùng mạnh, dưới sự chỉ huy của Husain Kurdi chiến đấu với người Frank. Vào Ấn Độ, ông dừng tại Diu”.

“Cuộc viễn chinh thất bại vào năm thứ 13 (năm 1507-1508). Hạm đội tàu đã giao chiến với người Frank, nhưng bị đánh bại và họ phải quay trở lại vùng bờ biển Arabia”.

“Đây là lần đầu tiên những người Frank xuất hiện, Chúa nguyền rủa họ, ở Ấn Độ Dương, họ đã chiếm giữ hải thương của người Hồi giáo”.

Những gì al-Shihri trải qua không phải là thất bại tồi tệ nhất của người Hồi giáo, mà là một bước ngoặt trong xung đột kéo dài nhiều thế kỷ giữa đạo Cơ Đốc và đạo Hồi. Một nhà ghi chép biên niên sử người A Rập khác thời đó là Shanbal đã cho chúng ta biết chi tiết hơn một chút:

“Trong năm nay (năm 1508-1509), người Frank đã chiếm Dabul, cướp phá và đốt nó. Cũng trong năm nay, người Frank đã thực hiện một cuộc viễn chinh chống lại Gujerat và tiến công Diu. Tiểu vương Husain, tại thời điểm đó đang ở Diu chiến đấu vì cuộc Thánh chiến, đã gặp người Frank và họ đã giao chiến trên biển ở cách xa cảng. Nhiều người Frank bị giết, nhưng cuối cùng người Frank đã thắng người Hồi giáo và đã tàn sát rất nhiều lính của tiểu vương Husain, khoảng 600, trong khi những người sống sót chạy trốn sang Diu. Người Frank cũng không dời đi cho đến tận khi người Hồi giáo bồi thường cho người Frank nhiều tiền”.

Người Frank thực ra là người Bồ Đào Nha. Trong trận chiến ở Diu nơi mà “nhiều người Frank bị sát hại”, số thương vong của Bồ Đào Nha là 32 người chết và 300 người bị thương. Trong khi đó số người Hồi giáo tử vong ít nhất cũng lên đến 1500 người. Tuy nhiên, tổn thất với đạo Hồi lớn tới mức không thể chỉ tính bằng số thương vong. Để hiểu điều gì đã xảy ra, chúng ta phải trở lại vài thế kỷ trước.

Thế giới của đạo Hồi

Một thiên niên kỉ rưỡi sau khi chúa Giê-su giáng sinh, đạo Cơ Đốc gần như chiếm lĩnh toàn bộ châu Âu. Nhưng chỉ cần một nửa khoảng thời gian đó, đạo Hồi đã lan rộng từ bán đảo Arabia sang khắp toàn bộ bờ phía đông của Địa Trung Hải, sau đó tiến về hướng đông qua Mesopotamia, Ba Tư, Afghanistan, phía bắc Ấn Độ vào Indonesia và Philippines. Nó đã di chuyển về hướng tây đến Ai Cập, qua Bắc Phi và vào Tây Ban Nha. Hồi giáo đã vượt qua Sahara và cải đạo các đế quốc của người da đen Tây Phi. Tôn giáo của nhà tiên tri Muhammad đã trải rộng về phía nam dọc theo bờ biển Đông của châu Phi, nơi những người A Rập đã thiết lập những thuộc địa từ rất lâu trước thời Mohammed. Những thầy tu đặc trách báo giờ của đạo Hồi kêu gọi các tín đồ tới cầu nguyện ở Trung Á, nơi các bộ tộc người Thổ Nhĩ Kì và Mông Cổ đã từng thực hiện Saman giáo.

Các tín đồi Hồi giáo
Các tín đồi Hồi giáo (Ảnh: Partner Group)

Dù thời điểm đó người Hồi giáo vất vả với những cuộc viễn chinh, nhưng cuối cùng nó đã đem lại lợi ích cho họ. Những tín đồ Cơ Đốc có niềm đam mê với hàng hóa phương Đông. Họ thèm muốn lụa của Trung Quốc, ngọc trai của Ba Tư, những gia vị của Indonesia và vàng của Ấn Độ. Và tất cả các tuyến đường thương mại đã nằm trong tay tín đồ Hồi giáo. Đôi khi, người châu Âu – chẳng hạn như người Ba Lan – có thể đi bằng đường bộ đến Trung Quốc, nhưng những hoạt động thương mại mạo hiểm như thế rất hiếm gặp. Tất cả những đoàn buôn đã lê bước dọc theo con đường tơ lụa cổ xưa đều là tín đồ Hồi giáo người Thổ Nhĩ Kì.

Những tuyến đường biển từ hướng đông, nơi việc buôn bán diễn ra nhộn nhịp hơn nhiều, cũng được tín đồ Hồi giáo giữ độc quyền. Các thuyền buồm A Rập từ Arabia và châu Phi vượt qua Ấn Độ Dương. Hành trình cả đi và về rất chậm bởi vì những con thuyền buồm phải phụ thuộc vào gió mùa, mà khối lượng hàng hóa lại rất lớn – và vô cùng giá trị. Hàng hóa từ Trung Quốc, Ấn Độ và Ba Tư dừng chân ở Ai Cập, nơi chúng được chuyển đến châu Âu trên những con tàu của người Venice. Người châu Âu không kiểm soát tuyến đường Ấn Độ Dương. Để tới Ấn Độ Dương, những người Công giáo sẽ phải vượt qua các vùng đất của người Hồi giáo. Chỉ có một con đường khác duy nhất là đi vòng quanh toàn bộ lục địa châu Phi – một chuyến đi không thể hình dung được.

Những người cai trị tín đồ Hồi giáo trở nên giàu có nhờ thương mại – đặc biệt là những người cai trị Mamluk của Ai Cập. Sự giàu có của người Ai Cập đã khơi gợi lên sự ghen tị của người Ottoman, một tộc người trong các bộ tộc du cư Thổ Nhĩ Kì, họ đã thành lập một đế quốc ở Anatolia.

Đế quốc Ottoman đang mở rộng về tất cả hướng. Ở hướng đông, nó chiến đấu với người Ba Tư. Còn ở hướng tây, nó đánh bại thành lũy của đạo Cơ Đốc là Constantinople, và tiến vào vùng Balkans. Ở hướng bắc, nó đi qua Caucuses và vào Nga. Còn ở hướng nam, nó tuyên bố chủ quyền với Syria và Mesopotamia. Người Ottoman dường như vô địch. Bộ phận chính của đội quân đế chế là những kị binh bắn cung nhẹ, lực lượng vũ trang đã chứng tỏ như vậy. Những người lính này đã chứng tỏ được hiệu quả trong các cuộc Thập tự chinh. Như tất cả các quốc gia ở Trung Đông và Trung Á, kị binh hạng nhẹ của Ottoman là giới quý tộc. Bộ binh là những nông nô hoặc nô lệ. Vua Ottoman đã phát triển một loại bộ binh nô lệ mới. Những người lính Thổ Nhĩ Kì bị tách khỏi bố mẹ là người theo đạo Cơ Đốc từ khi còn rất nhỏ, họ được nuôi dạy như người Hồi giáo và được huấn luyện nghệ thuật quân sự cho đến khi đủ tuổi làm lính. Hầu hết họ là những cung thủ, nhưng một vài người được cấp súng. Trái với hầu hết những tín đồ Hồi giáo, người Ottoman biết rõ cách sử dụng thuốc súng. Súng hỏa mai của lính Thổ Nhĩ Kì có tầm bắn và độ chính xác đều không bằng cung tên Thổ Nhĩ Kì, nhưng người Thổ Nhĩ Kì nhận thấy trong một số trường hợp khai hỏa từ những con tàu hoặc những pháo đài thì chúng thuận tiện hơn. Người Thổ Nhĩ Kì cũng có súng lớn – những khẩu đại bác khổng lồ có thể phá tan hầu hết những bức tường đá chỉ với một phát súng duy nhất. Những người Thổ Nhĩ Kì thấy đại bác có giá trị trong thủy chiến cũng như chiến tranh bao vây. Họ đặt đại bác ở mũi những con thuyền galê (galley) để bổ sung sức mạnh chiến đấu cho chúng. Bước sang thế kỷ XVI, họ đã có một cơ hội để chứng minh giá trị của những khẩu đại bác được gắn trên tàu.

Vùng đất của chiến tranh

Ottomans đề cập đến châu Âu như là “vùng đất của chiến tranh” – nơi mà họ chỉ đến để đánh nhau. Cái tên này thích hợp trên nhiều phương diện. Trong 5 thế kỷ trước cuộc Thập tự chinh đầu tiên, những kẻ xâm lược đã tràn vào châu Âu. Người Goth, Hung Nô, Avar, Bulgaria, Magyar, Viking và Ma-rốc đã tiến công những vương quốc của người theo đạo Cơ Đốc từ mọi phía. Dưới sự tiến công của những người man rợ này, nền văn minh của La Mã đã biến mất. Cuộc sống thành thị gần như bị phá hủy và châu Âu đã trở thành nửa man rợ. Cuộc Thập tự chinh đầu tiên bắt đầu vào năm 1096. Chỉ 82 năm trước đó, Brian Boru đã đập tan cuộc viễn chinh vĩ đại cuối cùng của người Viking bên ngoài Dublin, và hoàng đế đế quốc Byzantine là Bulgarcide Basil đã bị đánh bại hoàn toàn trong cuộc tiến công cuối cùng vào nền văn minh của dân du cư Trung Á. Những người Hồi giáo vẫn chiếm giữ hầu hết Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.

Chỉ có duy nhất một loại hình nghệ thuật được phát triển ở châu Âu trong giai đoạn này là nghệ thuật quân sự. Người châu Âu đang bận rộn luyện tập quân sự với nhau khi Giáo hoàng Urban II kích động họ chống lại tín đồ Hồi giáo. Tuy nhiên, những kĩ thuật quân sự được luyện tập cho chiến tranh ở châu Âu không hiệu quả với những sa mạc của vùng Cận Đông.

Mặc dù thất bại nhưng không phải tất cả các cuộc Thập tự chinh đều đem lại thảm họa cho châu Âu. Các cuộc Thập tự chinh đã đưa những người phương Tây nửa man rợ tiếp xúc với đế quốc La Mã phương Đông cũng như với nền văn minh của các vùng đất Hồi giáo. Việc học tập có bước nhảy vọt. Những trường đại học được thành lập và ngày càng phát triển. Những triết gia cổ đại hầu như đã bị lãng quên, lại được nghiên cứu. Cả những nhà toán học và những công trình sư cổ đại cũng vậy. Sự tinh vi của máy móc đã tạo ra nỏ (loại vũ khí khiến Anna Comnena rất ngạc nhiên), nay được chuyển sang những nghệ thuật hoà bình. Thợ xay bắt đầu xay thóc lúa với những chiếc cối xay dùng sức nước hoặc gió. Thợ mỏ đào sâu để tìm than, sắt, đồng và những kim loại quý giá. Thợ nề xây dựng những nhà thờ lớn kiểu Goth cao ngất. Thợ đúc kim loại đã biết cách đúc những cái chuông đồng khổng lồ cho các nhà thờ lớn.

Xã hội cũng bắt đầu thay đổi. Hiệp sĩ mặc áo giáp sắt không còn mạnh nhất. Những người lính trang bị giáo của Scotland đã đánh bại những hiệp sĩ Anh, bộ binh Flemish, hiệp sĩ Pháp, lính Thụy Sĩ, hiệp sĩ Burgundy. Tại trận Crecy, Poitiers và Agincourt các cung thủ Anh đã hạ hàng nghìn hiệp sĩ Pháp. Vì vậy, sức mạnh của giới quý tộc bị suy giảm, sức mạnh của lái buôn và thợ thủ công tăng lên.

Thương mại đường bộ và đường biển đều tăng lên. Sản lượng lương thực tăng. Người nông dân áp dụng cách cày xới tốt hơn, ngư dân biết cách vượt biển xa hơn. Các thuỷ thủ từ Địa Trung Hải đã gặp những thuỷ thủ từ Đại Tây Dương và học hỏi lẫn nhau. Trong thế kỷ XIV và XV, việc thiết kế những con tàu và lắp đặt thiết bị hàng hải đã tiến bộ vượt bậc so với hai thiên niên kỉ trước đó.

Hai cường quốc lớn nhất ở Đại Tây Dương là Anh và Pháp vướng vào cuộc chiến tranh kéo dài hàng trăm năm. Pháp thắng trong cuộc chiến đó, nhưng đã bị tàn phá và phải mất một thời gian dài để khôi phục lại. Chiến tranh diễn ra liên tiếp khi nước Anh lao vào Cuộc chiến Hoa hồng. Vì vậy những cường quốc nhỏ hơn ở Đại Tây Dương lại đi đầu trong việc thám hiểm đại dương. Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã khám phá ra quần đảo Azores và Canary.

Những chuyến du hành khám phá này không phải vì mục đích tìm hiểu kiến thức mà vì lợi ích của chính họ. Người Ottoman Thổ Nhĩ Kì vẫn đang tiến vào châu Âu. Có một truyền thuyết rằng ở trung tâm châu Á hoặc châu Phi là Prester John – một vị vua tín đồ đạo Cơ Đốc, có thể xui khiến việc tiến công tín đồ Hồi giáo từ phía sau. Prester John không hoàn toàn là thần thoại. Những linh mục theo đạo Cơ Đốc của Ai Cập từ vùng Abyssinia (Ethiopia ngày nay) đã thăm Bồ Đào Nha. Và Giáo hoàng đã gửi những sứ giả đi thăm Thành Cát Tư Hãn, một số thần dân của Thành Cát Tư Hãn là tín đồ theo đạo Cơ Đốc. Có thể những con tàu đã tìm ra một tuyến đường biển tới vùng đất của Prester John. Với những tín đồ Cơ Đốc Iberia đang đụng độ với những tín đồ Hồi giáo Iberia, thì những cuộc Thập tự chinh không phải là một vài cuộc chiến tranh từ thời xưa. Một hiệp sĩ Tây Ban Nha nói với một vị khách người Anh: “Chúng tôi luôn luôn trên đường viễn chinh”.

Những người Venice, Genoa và Thổ Nhĩ Kì kiểm soát Địa Trung Hải nhưng họ không thể đi sâu vào Đại Tây Dương. Thuyền chiến chủ yếu trên Địa Trung Hải là thuyền galê. Thuyền galê có buồm, nhưng trong chiến đấu họ chỉ sử dụng những mái chèo để đẩy thuyền đi. Những chiếc thuyền galê dài, hẹp, thấp, bền có thể di chuyển dễ dàng trong vùng nước phẳng lặng, nhưng không thể kiểm soát và rất nguy hiểm ở nơi biển động. Bởi vì cần người chèo đẩy thuyền đi nên những chiếc thuyền galê có thủy thủ đoàn rất đông. Không có chiếc thuyền galê nào có thể mang đủ thức ăn cho một chuyến đi dài. Từ hàng nghìn năm trước, những thủy thủ người Phoenicia đã trả tiền cho người Ai Cập để đi thuyền vòng quanh châu Phi. Nhưng họ đã mất ba năm để thực hiện việc này. Họ phải vào đất liền mỗi mùa thu để trồng lúa mì. Họ ở lại cho đến khi lúa chín để thu hoạch, sau đó mới lại lên đường.

Thủy thủ ở vùng bờ biển Đại Tây Dương của châu Âu đã phát triển những con thuyền dùng cho những chuyến đi dài trên biển. Những con thuyền này rộng, cao hơn thuyền galê và chỉ dùng buồm để đi nên trên thuyền chỉ có một số thủy thủ. Họ có thể lái thuyền ngược gió. Một chiếc thuyền kiểu này sẽ không thể chống lại khi bị một chiếc thuyền galê tiến công.

Để tự vệ, họ dựa vào súng đại bác. Không phải ba hoặc bốn khẩu ở phía trước như trên thuyền gale, mà là một dãy súng dọc theo mạn thuyền. Họ có hai, đôi khi là ba boong tàu có những lỗ hổng trên mạn thuyền để súng đại bác thò đầu ra, những lỗ hổng này có thể đóng lại khi thuyền ra khơi.

Người Ottoman Thổ Nhĩ Kì cũng có súng đại bác, nhưng kĩ thuật pháo của họ còn thua xa người châu Âu. Hàng thế kỷ đúc chuông đồng cho nhà thờ đã khiến người châu Âu trở thành thợ đúc các vật dụng lớn giỏi nhất thế giới. Những người thợ đúc đồng nhận thấy không quá khó để áp dụng những kĩ năng của họ vào việc đúc súng từ gang thép. Người châu Âu đã kích động chiến tranh giữa những người lính mặc áo giáp dày và họ cũng thúc đẩy việc phát triển súng cầm tay có thể bắn xuyên qua lớp áo giáp dày.

Đi qua Ấn Độ

Với người Bồ Đào Nha, chuyến đi vòng quanh châu Phi là phần khác của cuộc viễn chinh không bao giờ kết thúc. Năm 1415, họ đã chiếm cảng Ceuta của Ma-rốc. Ceuta là bến cuối cùng để những đoàn người vận chuyển vàng và ngà voi từ Trung Phi qua sa mạc Sahara đến dừng chân. Người Bồ Đào Nha biết rằng họ sẽ giàu có nếu nắm giữ tất cả những con đường đến Ấn Độ. Việc thám hiểm được họ thực hiện một cách có phương pháp. Họ thám hiểm 160km mỗi năm, thiết lập các trạm mậu dịch và kí kết các hiệp ước với những người cai trị bản địa khi họ di chuyển về hướng nam. Càng đi về hướng nam, họ càng cách xa nền văn minh hơn. Nơi xa nhất họ đến là vùng đất của những thổ dân Nam Phi ở cực nam của châu Phi.

Một thuỷ thủ tên là Old Alvaro – người đi cùng Bartomeu Dias trong cuộc thám hiểm đầu tiên của người Bồ Đào Nha vòng quanh Cape đến Ấn Độ, đã viết: “Cư dân của đất nước này có màu da nâu. Bọn họ ăn thịt hải cẩu, cá voi, linh dương gazen và rễ thảo mộc. Họ cởi trần và mặc váy bó chẽn che những vùng kín”.

Tuy nhiên, vùng bờ biển phía đông của châu Phi hoàn toàn khác biệt với vùng bờ biển phía tây. Tại đây, người Bồ Đào Nha không thấy những bộ lạc nghèo túng sống trong những căn lều cỏ. Họ tìm thấy những thành phố cảng với những bến tàu đá và nhiều toà nhà được thêu dệt thành truyền thuyết. Trong các thành phố đó là những người thuộc nhiều chủng tộc: người da đen, người Ấn Độ, người Ba Tư và người A Rập. Phần lớn dân cư ở cảng biển là người lai. Họ là những tín đồ Hồi giáo ngoại trừ một vài người theo đạo Hindu. Họ chưa bao giờ thấy những người theo đạo Cơ Đốc. Ban đầu, họ nhầm người Bồ Đào Nha da trắng là người Thổ Nhĩ Kì hoặc A Rập.

Dias có những cuộc đụng độ với quốc vương của Mozambique và Mombassa, ông liên minh với quốc vương của Malindi. Sau đó ông vượt qua Ấn Độ Dương và cập bến ở Calicut. Những lái buôn người Hồi giáo ở Calicut đã xúi giục những nhà cầm quyền theo đạo Hindu chống lại người Bồ Đào Nha, Dias đã may mắn trốn thoát và quay trở về Bồ Đào Nha.

Pedro Alvares Cabral dẫn đầu cuộc thám hiểm thứ hai của người Bồ Đào Nha tới Calicut. Trên đường tới Ấn Độ, Cabral đã tình cờ khám phá ra Brazil. Ở Calicut, người Bồ Đào Nha gặp nhiều rắc rối với nhà cầm quyền, nhưng nhờ sự giúp đỡ của Tiểu vương Cochin người đã tham gia chiến tranh chống lại Calicut, họ được quay trở lại Bồ Đào Nha. Sau đó, vua Manoel đã cử Vasco da Gama – người đầu tiên tới được mũi Hảo Vọng, chống lại Calicut. Những binh lính của Calicut đang bao vây Cochin khi Vasco da Gama đến. Hoả lực của hạm đội Bồ Đào Nha đã đánh tan tác những kẻ bao vây. Tiếp nối chiến thắng này, người Bồ Đào Nha chiếm giữ những vị trí quan trọng trên vùng bờ biển Ấn Độ Dương và phá hủy tất cả thương thuyền của tín đồ Hồi giáo mà họ có thể tìm thấy.

Trận hải chiến Diu, năm 1509

Trận hải chiến Diu, năm 1509
Một trận hải chiến thời trung cổ (ảnh minh họa: wikimedia.org)

Năm 1505, vua và triều đình Bồ Đào Nha quyết định củng cố tất cả những việc làm táo bạo của họ ở Ấn Độ và những vùng phụ cận. Manoel đã bổ nhiệm Francisco de Almeida làm Tổng trấn và trao cho ông ta quyền chỉ huy hạm đội tàu Bồ Đào Nha lớn nhất từ trước đến giờ.

Trong khi đó, những người Hồi giáo cai trị ở Đông Phi, nam Arabia và Ấn Độ lại phàn nàn với vua Ai Cập về những cuộc tiến công của “người Frank”. Những người Venice cũng thúc giục đồng minh Ai Cập làm một việc gì đó. Vua Ai Cập không cần thuyết phục vì đã thấy được thời điểm cam go này. Ông ta gửi một thông điệp tới đối thủ của mình là vua Ottoman và hai cường quốc Hồi giáo đã đồng ý hợp tác. Họ tập trung một đội tàu khổng lồ ở Jeddah trên vùng ven biển phía tây của Arabia và đi xuống Biển Đỏ. Đô đốc Hồi giáo là Husain Kurdi đã tiến tới Diu – cảng của người Hồi giáo.

Đội tàu của Almeida đã đến Cochin. Được biết về cuộc tập hợp những con tàu Hồi giáo ở Diu, Almeida cử con trai là Lorenco cùng với một vài con tàu nhỏ đi do thám khu vực này. Hạm đội tàu Thổ Nhĩ Kì – Ai Cập đặt bẫy Lorenco và sát hại anh ta. Người Thổ Nhĩ Kì lột da Lorenco, nhồi rơm vào và gửi tới vị vua ở Constantinople. Trước khi Almeida có thể tập trung lực lượng, những tín đồ Hồi giáo đã quay về Arabia.

Hai năm sau, Husain quay trở lại với nhiều tàu hơn. Phần lớn là thuyền galê, với ba khẩu đại bác ở mũi thuyền, phía trên mũi lớn bằng đồng dùng để đâm. Có 200 con thuyền, hàng nghìn người chèo thuyền và 1500 lính tiến công kẻ địch. Bên cạnh gươm và giáo, những người lính còn mang theo cung tên hoặc súng trường. Họ dùng móc sắt để neo tàu và giữ những nồi nung treo trên boong tàu. Husain sẽ giải quyết vấn đề “người Frank” một cách triệt để.

Khi những tín đồ Hồi giáo trở lại, Almeida đã sẵn sàng. Hăng hái muốn trả thù, ông đã dẫn những con tàu của mình tiến đến Diu. Ông có 17 con tàu nhưng tất cả đều lớn hơn và được trang bị vũ khí tốt hơn nhiều so với những con thuyền galê của Husain. Ngay khi tàu do thám của người Hồi giáo thông báo đã thấy những con thuyền Bồ Đào Nha, những người Hồi giáo đã rời cảng và chèo về phía họ. Biển ở đây động hơn Biển Đỏ và Địa Trung Hải. Những con thuyền galê không thể đi với tốc độ nhanh như họ mong đợi và việc giữ những con thuyền thẳng hàng càng khó hơn.

Thay vì tiến công thẳng phía trước – như thường lệ trong trận chiến giữa những con thuyền galê – người Bồ Đào Nha chuyển sang tiến công bên mạn tàu. Sau đó, họ bắt đầu nổ súng. Họ bắn những loạt súng nổ vang như sấm, át hẳn âm thanh vài khẩu súng của người Hồi giáo. Một vài con thuyền Hồi giáo tiến gần đủ để đâm hoặc nhảy sang tàu đối phương. Tuy nhiên hỏa lực của những con tàu Bồ Đào Nha đã phá vỡ những con thuyền galê. Đạn đại bác bắn qua hàng loạt người chèo thuyền, để lại hàng đống máu và những cái xác tan nát. Như một tác giả người Ấn Độ viết: “Sự can đảm cũng vô ích khi chống lại pháo và những con thuyền dễ vỡ của họ đã bị nhấn chìm trong trận chiến”. Đến sẩm tối, tàu của đô đốc Hồi giáo đã bị chìm cùng hầu hết những chiếc thuyền galê khác. Những người Ai Cập và Thổ Nhĩ Kì sống sót bỏ những con tàu đang mắc cạn của họ và chạy trốn vào thành phố.

Các chiến binh mamluk[1] Ai Cập lần đầu tiên phải chịu tổn thất vì mất tuyến đường thương mại phương Đông. Người Ottoman đã chinh phục được họ sau trận Diu tám năm. Sang thế kỷ sau, người Thổ Nhĩ Kì đã hơn ba lần cố gắng tranh chấp quyền làm chủ Ấn Độ Dương với người Bồ Đào Nha. Tuy nhiên, tất cả đều kết thúc giống nhau. Cuối cùng, người Bồ Đào Nha cũng mất quyền kiểm soát Ấn Độ Dương nhưng họ để nó rơi vào tay người Hà Lan, sau đó người Hà Lan lại bị người Anh và Pháp chiếm mất. Thương mại trên Ấn Độ Dương là nguồn của cải lớn, đã tuột khỏi tay người Hồi giáo mãi mãi.

Một thủy thủ người Genoa là Christoforo Columbo, được khích lệ bởi kỳ công đến được Cape của Da Gama đã bắt đầu tìm cách bán các kinh nghiệm của ông về việc đi thuyền từ phương Tây để tiếp cận với phương Đông. Người Bồ Đào Nha nói kế hoạch của ông dựa trên những tính toán sai lầm. Tuy nhiên, người Tây Ban Nha đã mua lại ý tưởng này. Năm 1492, ngay sau khi người Tây Ban Nha đánh đuổi những người Hồi giáo cuối cùng ra khỏi đất nước, Columbo thực hiện chuyến đi bằng thuyền buồm.

Đầu thế kỷ XV, dường như đạo Hồi đã sẵn sàng để thống trị thế giới. Tuy nhiên, viễn cảnh đó đã bị nhấn chìm ở Ấn Độ Dương bên ngoài Diu.

William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

Ghi chú:

[1] Mamluk: Chiến binh mamluk là lính nô lệ được cải sang đạo Hồi và phụng sự các khalip Hồi giáo và các sultan triều đại Ayyubid trong suốt thời kỳ Trung Cổ. Qua thời gian, họ trở thành một lực lượng quân sự mạnh mẽ thường đánh bại các đội quân Thập tự chinh châu Âu. Hơn một lần, họ có cơ hội nắm lấy quyền lực cho mình; ví dụ sự thống trị Ai Cập trong giai đoạn các vua Mamluk từ 1250 đến 1517.

Xem thêm:

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây