Trận Emmaus, năm 166 Tr.CN: Một thế kỷ độc lập của Israel

171

Trận Emmaus, năm 166 Tr.CN giữa người Do Thái (Judas Maccabeus) với người Hi Lạp (Gorgias). Chiến thắng của Judas đã bảo đảm đạo Do Thái không mất đi và đạo Cơ đốc là kết quả của đạo Do Thái được bảo toàn.

Hoàn cảnh trước trận Emmaus

Quân Hi Lạp đã đến thị trấn Modin và Matthias biết điều gì đang chờ đợi họ. Hoàng đế Antiochus muốn phá bỏ những quy định của Chúa. Ông đã tàn sát phần lớn dân số của Jerusalem, giết chết tất cả những ai từ chối cúng thần, ăn thịt “không trinh khiết”, hoặc không chịu cắt bao quy đầu của bé trai sơ sinh của họ. Antiochus cai trị trên một phần của đế quốc được đại đế Alexander chinh phục, phần đất Alexander đã trao cho một viên tướng là Seleucus. Israel là một phần của đế quốc Ba Tư cũ, đã trở thành một phần của vương quốc Ai Cập, được cai trị bởi sự kế vị của các vua Ai Cập cổ đại ở Hi Lạp, hầu như tất cả các vị vua này đều mang tên Ptolemy. Nhưng Antiochus, được những kẻ nịnh thần của ông gọi là “Alexander thứ hai”, đang thèm muốn lãnh thổ Ai Cập. Khi chiến tranh giữa Ai Cập và vương quốc Seleucid  nổ ra, Ptolemy chạy trốn khỏi quê hương của mình trên bờ biển phía đông của Địa Trung Hải và ẩn náu tại Ai Cập.

Trong suốt thời gian chiến tranh, Israel đã bị phân chia. Một số người ủng hộ Ptolemy, một số theo Antiochus. Phe ủng hộ Ptolemy chiếm ưu thế ở Jerusalem. Antiochus đã vào Jerusalem và tàn sát những lực lượng ủng hộ Ai Cập mà ông ta tìm ra và cướp phá các đền thờ lớn. Hai năm sau, ông đã khẳng định rằng vương quốc rộng lớn của mình, kéo dài từ Địa Trung Hải đến biên giới của Ấn Độ, có quá nhiều sự hỗn tạp. Từ thời điểm ấy trở đi, ông ra lệnh tất cả thần dân của mình phải theo cùng một luật pháp và thờ cùng một thần. Ông cử quân lính đến Jerusalem dựng một bức tượng của thần Dớt trong đền thờ và cúng lợn trên bàn thờ. Những người Do Thái  chống đối, hoặc chỉ từ chối thờ cúng theo kiểu Hi Lạp, đều bị tra tấn đến chết.

Antiochus IV
Bức tượng bán thân của Antiochus IV tại Bảo tàng Altes ở Berlin. Ảnh: Wikipedia

Từ Jerusalem, mật vụ của Antiochus đi hết thị trấn này đến thị trấn khác trong vương quốc Israel cổ, rồi yêu cầu tất cả dân chúng thực hiện theo tôn giáo của hoàng đế. Khi họ đã đến ngôi làng miền núi ở Modin, các quan chức Hi Lạp đã cho gọi tất cả các người dân thị trấn đến họp ở chợ. Đặc biệt họ nài nỉ Matthias – thầy tu ở  Modin, đến. Matthias và năm người con trai của ông đã tự trang bị vũ khí. Theo nhà sử học Josephus, họ đã mang theo những con dao mà họ có thể giấu trong quần áo.

Khi đám đông đã tập trung thì viên quan Hi Lạp đứng trước một bàn thờ mới dựng, nói thẳng với Matthias:

“Ngài là người cai trị, một người đáng kính và vĩ đại trong thành này, ngài có nhiều con trai và người thân. Vì vậy, ngài hãy là người đầu tiên tuân theo lệnh của hoàng đế như tất cả các nước và những người đàn ông ở Judea cùng với tất cả những người còn lại ở Jerusalem đã làm. Như thế ngài và các con trai của ngài sẽ là bạn của hoàng đế và sẽ trở nên giàu có với  nhiều vàng bạc và quà tặng”.

Matthias đã lớn tiếng đáp lại:

“Dù tất cả các nước tuân theo hoàng đế Antiochus, từ bỏ quy định của tổ tiên họ và chấp nhận làm theo lệnh của hoàng đế, tôi và các con trai của tôi và đồng bào của tôi sẽ tuân theo quy định của tổ tiên chúng tôi. Chúa thương xót chúng tôi. Chúng tôi  chẳng có lợi gì khi từ bỏ quy định và công lí của Chúa. Chúng tôi sẽ không nghe lời hoàng đế Antiochus, không thờ cúng và cũng sẽ không vi phạm những lời răn dạy theo quy định của tổ tiên chúng tôi, dù thế nào đi nữa”.

Tuy nhiên, khi vừa nói xong, Matthias thấy một người dân Modin tiến đến bàn thờ và dâng đồ cúng lên thần linh. Matthias nổi cơn thịnh nộ, ông rút con dao rựa lao về phía người đó và chém anh ta. Sau đó, ông giết viên quan người Hi Lạp. Với sự trợ giúp của  năm người con trai, Matthias đã lật đổ bàn thờ mà ông cho là tà giáo. Ông hét lên với đám đông: “Ai hăng hái bảo vệ quy định của tổ tiên và bảo vệ Kinh Thánh thì hãy theo tôi!”. Sau đó Matthias và các con trai của ông bỏ trốn trên núi, rất nhiều đàn ông trong thị trấn đi theo họ.

Trước Matthias, nhiều người Do Thái đã bỏ trốn vào nơi hoang vu. Quan thủ hiến Hi Lạp là Apollonius đã quyết định không chỉ đuổi bắt những kẻ chống đối này, mà còn phải biết lợi dụng phong tục của người Do Thái trong khi đuổi bắt nữa. Ông đã cử quân lính đuổi theo một nhóm người Do Thái vào ngày Sabbath (ngày nghỉ – với người Do Thái là thứ Bảy). Quân lính nói với những người Do Thái rằng họ phải tuân theo lệnh của hoàng đế, nếu không họ sẽ phải gánh chịu những hậu quả. Những người Do Thái từ chối bỏ đức tin của mình và từ chối đấu tranh vào ngày Sabbath. Lính Hi Lạp đã giết tất cả bọn họ ─ cả đàn ông, phụ nữ, và trẻ em. Khi Matthias và các bạn ông nghe nói về vụ thảm sát, họ đã quyết tâm dù bất kì kẻ lạ mặt nào khiêu chiến với họ vào ngày Sabbath, thì họ cũng sẽ đấu tranh. “Và chúng ta sẽ không chết hết”.

Họ cũng không chờ người Hi Lạp đến tìm họ. Matthias đã tổ chức một đội quân tức thời và bắt đầu tiến hành cuộc chiến tranh du kích. Di chuyển hầu hết vào ban đêm, đội quân người Do Thái tiến công hết thị trấn này đến thị trấn khác, giết quân lính Hi Lạp và những kẻ hợp tác với chúng, lật đổ bàn thờ tà giáo, và bỏ việc cắt bao quy đầu trẻ sơ sinh. Đúng như họ mong đợi, họ đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ những người dân địa phương.

Judas the Hammer

Đúng như người Do Thái dự đoán, người Hi Lạp không bỏ qua cuộc nổi dậy ở Israel. Họ bắt đầu tập trung quân lính để đối phó với người Do Thái. Khi cuộc khủng hoảng gia tăng thì Matthias đã chết. Con trai ông là Judas, được ghi lại trong lịch sử là Judas Machabeus (hay Maccabaeus) – Judas the Hammer – đã nối tiếp sự nghiệp của ông. Judas đã ngay lập tức đặt tên hiệu cho mình.

Judas Machabeus
Judas Machabeus. Ảnh: Wikipedia

Apollonius đã tập trung một lực lượng lính đồn trú ở Samaria để xâm chiếm vùng Judea. Judas đã di chuyển trước. Đội quân của người Do Thái đã hành quân đến Samaria trước khi quân Hi Lạp chuẩn bị đầy đủ và tiến công. Quân Hi Lạp tháo chạy với tổn thất lớn. Cuốn sách về Maccabees viết rằng: “Judas đã lấy thanh gươm của Apollonius và đã chiến đấu bằng thanh gươm đó trong suốt cuộc đời”.

Seron, tướng chỉ huy quân Hi Lạp ở Syria đã nói: “Ta sẽ ghi tên mình và tô điểm vương quốc, đánh bại Judas và những kẻ đi cùng với hắn, những kẻ dám coi thường chỉ dụ của hoàng đế”. Seron dẫn phần lớn quân của ông ta hành quân đến Israel với quân số đông hơn rất nhiều lực lượng của Judas. Những  người Do Thái  kinh sợ khi họ thấy đội quân đông đảo của ông ta tiến đến Bethoran.

Mặc dù vậy, Judas đã nói: “Họ chống lại chúng ta với một đám đông láo xược và tự phụ, để tiêu diệt chúng ta, vợ và con chúng ta, và cướp đất đai của chúng ta. Nhưng chúng ta sẽ chiến đấu vì cuộc sống của chúng ta và vì những quy định của chúng ta nữa”.

Sau đó, ông ra lệnh tiến công khi quân Hi Lạp đang hành quân.

 Những người Do Thái được khích lệ bởi lời nói của người chỉ huy đã xông vào quân Hi Lạp chiến đấu mạnh mẽ đến mức những kẻ xâm lược tự mãn về quân số của chúng đã phải bỏ chạy và lẩn trốn. Judas và người của ông đuổi theo họ xuống núi Bethoron và vào vùng đồng bằng. Trong chiến tranh thời xưa, một đội quân chạy trốn luôn dễ bị tổn thương nhất. Người Do Thái đã giết 800 lính Hi Lạp, đám tàn quân còn lại chạy trốn vào vùng đất của người Philistines.

Cuộc tiến công quan trọng nhất

Tại Antioch, hoàng đế Antiochus khẳng định sự nổi loạn của người Do Thái là một mối đe dọa lớn. Ông đã mở ngân khố của mình và thuê một đội quân lính đánh thuê đông đảo, mua hàng tấn thiết bị quân sự và mua rất nhiều voi – voi được coi là vũ khí tối thượng trong chiến tranh Hi Lạp cổ. Sau đó, hoàng đế phát hiện ra ông đã chi quá nhiều vào việc chuẩn bị về quân sự làm hết ngân khố. Nhưng điều đó không thành vấn đề. Tất cả những gì ông cần là có thêm đồ cống nạp. Vì vậy, ông đã đưa một nửa quân đội hành quân đến Ba Tư và các tỉnh phía Đông khác để thu thập đồ cống nạp.

 Antiochus để lại cho anh họ của mình là Lysias chịu trách nhiệm về một nửa phía Tây của vương quốc với một nửa quân đội. Ông yêu cầu Lysias chú ý đến Judea và Jerusalem. “Nên cử một đội quân đến đánh chúng để phá hủy và xóa bỏ sức mạnh của Israel cũng như tàn dư của Jerusalem và xóa đi kí ức của chúng về nơi đó”.

Jerusalem ngày nay
Jerusalem ngày nay. Ảnh: Dân Việt

 Lysias đã chọn ba tướng là Gorgias, Ptolemy (không phải là hoàng đế Ai Cập) và Nicanor và cử họ tới Israel cùng với đội quân đến một bộ lạc du cư của Hi Lạp và các lái buôn Syrian chuẩn bị sẵn sàng để mua những nô lệ người Do Thái mà họ tin chắc đội quân của mình sẽ bắt được. Quân Hi Lạp hạ trại trên vùng đồng bằng, gần thành phố Emmaus, cách Jerusalem không xa. Cuốn sách về Maccabees đã ghi lại rằng Jerusalem “như là một sa mạc”. Đã có một đội lính Hi Lạp đồn trú trong thành lũy, một pháo đài ở một góc của thành phố tuy nhiên không có dân cư. Lính từ thành lũy này đã trốn ra và gia nhập vào đội quân Hi Lạp để hướng dẫn họ đi xuyên suốt trong một đất nước xa lạ.

Trong khi đó, Judas đã tổ chức quân của mình giống như quân đội chuyên nghiệp với các đơn vị 10, 50, 100 và 1000 người. Tuy nhiên, vũ khí của họ là thứ được cải biến và kém hơn vũ khí của quân Hi Lạp – những người đã được vũ trang như đội quân chuyên nghiệp của Alexander. Họ dựng trại vững chắc ở phía nam Emmaus. Judas đã nói với người của mình, thôi thúc họ chiến đấu dũng cảm: “Chúng ta thà chết trong trận chiến còn hơn chứng kiến tội ác ở đất nước và ở vùng thánh địa của chúng ta. Tuy nhiên, đây là ý định của Chúa trên thiên đường, vì vậy nó sẽ được thực hiện”.

Nhưng Judas đang tìm kiếm chiến thắng chứ không phải “tử vì đạo”. Ông cùng với quân của mình rời trại vào ban đêm và đi lên một vị trí gần trại quân Hi Lạp để họ có thể tiến công vào lúc bình minh. Gorgias hóa ra cũng có cùng ý tưởng với Judas. Ông ta đã dẫn một phần đội quân đến trại của người Do Thái, lập kế hoạch tiến công ban đêm. Quân Hi Lạp  tràn vào trại của người Do Thái và thấy nó đã bị bỏ trống.

Gorgias nói: “Những người này chạy trốn chúng ta”. Nơi tốt nhất để trốn là những ngọn núi gần đó. Nghĩ vậy, ông ta đã dẫn kị binh và bộ binh đi lùng sục trên các ngọn đồi. Trong khi ông ta tìm kiếm người Do Thái, Judas và quân của mình đã tiến công trại quân Hy Lạp đánh tan tác đội quân đồn trú ở đó. Người Do Thái đốt trại, xua đuổi quân đồn trú Hi Lạp và chém giết,  3000 lính Hi Lạp đã thiệt mạng..

Bức vẽ miêu tả trận Emmaus. Ảnh: historycollection.co

Đứng trên một ngọn núi, Gorgias và quân Hi Lạp thấy khói bốc lên từ trại của họ, họ còn thấy đám bụi do quân Hi Lạp rút lui và người Do Thái đuổi theo. Gorgias quyết định đã đến lúc phải trở về Syria.

Có nhiều cuộc chiến đấu khó khăn phía trước, nhưng lần đầu tiên Israel đã giành được độc lập trong hơn 500 năm – kể từ khi người Babylon chiếm giữ Jerusalem và tàn sát phần lớn dân cư ở đây. Năm sau, Lysias đã cố gắng khôi phục lại thế trận, nhưng quân Do Thái giờ được trang bị vũ khí theo kiểu Hi Lạp đã đánh tan quân của Lysias và giết 5000 lính Hi Lạp. Quân Do Thái vào Jerusalem, dọn sạch các đền thờ, xây dựng những bàn thờ mới, lựa chọn thầy tu mới và bao vây thành. Judas đã chỉ huy người của mình chống lại các nước lân cận – những nước đã lợi dụng tình cảnh chiến tranh này – và đã thành công ở mọi nơi. Rắc rối với người Hi Lạp của vương quốc Seleucid vẫn tiếp diễn, nhưng Seleucids cũng có những rắc rối khác. Họ đã cố gắng để mở rộng sang châu Âu, nhưng người La Mã  đã đánh tan quân của họ. Sau đó, dân du cư người Parthia, Iran từ Trung Á đã bắt đầu chia cắt phần phía Đông của vương quốc này. Rồi người Seleucids xảy ra nội chiến và phải tìm người Do Thái giúp đỡ. Cuối cùng, trước khi ông tử trận, Judas đã liên minh với La Mã làm tăng sức mạnh của phương Tây.

Di sản ở Emmaus

Chiến thắng của Judas the Hammer tại Emmaus đã đem lại độc lập cho Israel trong một thế kỷ. Cuối cùng, La Mã – siêu cường ở Địa Trung Hải – đã sáp nhập nó.

Nhưng quan trọng hơn là thế kỷ độc lập của Israel thực tế đã chấm dứt sự bạo hành của hoàng đế Antiochus. Những người Do Thái phải chịu đựng nhiều cuộc bạo hành, nhưng trước thời Adolf Hitler thì chưa có cuộc bạo hành nào có thể so với chiến dịch của hoàng đế Antiochus. Chiến thắng của Judas đã bảo đảm đạo Do Thái không mất đi và đạo Cơ đốc là kết quả của đạo Do Thái được bảo toàn.

William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

Xem thêm: