Trận đánh Yarmuk, năm 636: Bước tiến nhanh chóng của người Hồi giáo

0
39
Minh họa về Trận chiến Yarmouk.
Minh họa về Trận chiến Yarmouk. Ảnh: Epic World History

Trận đánh Thung lũng Yarmuk, năm 636 xảy ra giữa người Hồi giáo của vương quốc A Rập với Đông La Mã. Chiến thắng của người A Rập đã xây dựng nên Dar es Islam, vùng đất của đạo Hồi, đạo có ảnh hưởng lớn trên thế giới ít nhất cả nghìn năm sau.

Hai ngọn đèn thắp sáng thế giới

Một lần, đại sứ Ba Tư đã nói với hoàng đế La Mã rằng: “Đế quốc La Mã và đế quốc Ba Tư giống như hai ngọn đèn thắp sáng thế giới”. Hai nước lớn, ở trung tâm nền văn minh phương Tây và Trung Đông, đã cùng tồn tại qua nhiều thế hệ. Việc cùng tồn tại của họ hiếm khi hòa bình: họ hầu như liên tục đụng độ với nhau trên biên giới và những tín đồ Công giáo La Mã coi thường người Mazdians tôn sùng lửa, những người tôn sùng lửa coi thường người Công giáo. Tuy nhiên, kể từ cuộc viễn chinh xui xẻo chống lại người Parthia của Crassus (xem trận Carrhae), đế quốc này đã vài lần cố gắng chinh phục đế quốc kia, và trong mỗi đế quốc lại có sự mâu thuẫn tôn giáo khiến cho những người cuồng tín luôn luôn bận rộn.

Tình hình đó đã chấm dứt với lễ đăng quang của Chosroes II ở Ba Tư. Chosroes là cách người phương Tây đọc tên của ông, nhưng thực ra tên của ông là Kurash. Tên ông được đặt theo tên của một vị tổ tiên danh tiếng, một người thắng trận đã trở thành huyền thoại được người phương Tây gọi là Cyrus Đại đế (tất nhiên, ngài cũng tên là Kurash). Chosroes quyết tâm tiếp tục công việc của Cyrus – ông  sẽ chinh phục phương Tây.

Ông đã bắt đầu với một sự khởi đầu tốt đẹp. Những đội quân Ba Tư tràn vào Armenia, Cilicia và Cappadocia. Rồi Damascus, Tarsus, Antioch và tất cả các vùng của Syria đã thua Chosroes – Kurash Parvez, bây giờ những người dân của ông gọi ông là “Chosroes – Người chiến thắng”. Ông đã chiếm Jerusalem và khuyến khích những người Do Thái còn lại tham gia cùng ông giết tín đồ Công giáo. Ông đã tàn sát 60 000 người và biến hơn 35-000 người thành nô lệ. Sau đó, người Ba Tư thắng phía bắc Ai Cập, đã tách đế quốc La Mã khỏi nguồn cung cấp thóc lúa chính của họ.

Quân đội Ba-tư
Quân đội Ba-tư. Ảnh: Tinhhoa.net

Người Ba Tư đang hạ những cổng thành Constantinople khi một người lính châu Phi tên là Heraclius, phế truất hoàng đế thối nát Phocas. Đế quốc La Mã, thực sự là đế quốc La Mã phương Đông, nó chỉ còn một ít phía tây của vùng Adriatic, trong bộ dạng buồn rầu khi Heraclius đến Constantinople. Người Ba Tư đã xâm chiếm hầu hết phía đông, và người Slav cùng với Avar – một dân tộc du cư ở Trung Á, đang dồn ép từ phía bắc.

Heraclius không cố gắng lấy lại kho lương là Ai Cập, hay lấy lại trung tâm tôn giáo Jerusalem đã bị chiếm mất. Thay vào đó, ông tiến thẳng vào Anatolia, tiêu diệt lực lượng quân đội Ba Tư ở đó và liên tiếp đánh tan những đội quân mà vua Ba Tư cử đi chống lại ông. Người Khazar Thổ Nhĩ Kì ở trên những thảo nguyên, thấy vậy đã thừa cơ xâm chiếm Ba Tư. Heraclius đi tới biển Caspi, chuyển sang hướng nam và đốt ngôi đền thờ lớn nhất của người Mazdian ở đế quốc La Mã. Việc này đã thể hiện rõ với những người dân của ông rằng “Chosroes – Người chiến thắng” chẳng là gì cả. Một người con trai của Chosroes đã ám sát cha mình và dàn hòa với Heraclius, trao trả lại cho người La Mã tất cả những gì họ đã mất và còn hơn thế nữa. Trong khi đó, người Avar cùng với những chư hầu người Slav của họ tiến công Constantinople. Lực lượng lính đóng quân trong thành phố Constantinople đã đánh bại họ với tổn thất nặng nề mà vương quốc của người Avar không bao giờ hồi phục lại được.

Heraclius bắt đầu chiến dịch của mình vào ngày 5 tháng 4 năm 622. Năm tháng sau đó, tại một vùng xa xôi ở A Rập, một người A Rập đã đi  khắp nơi thuyết giáo đạo đức và lên án việc bỏ thờ cúng thần linh ở quê hương của ông. Ông tên là Mohammed.

Đạo Hồi

 Mohammed không giành được cảm tình của các thương gia lớn người Mecca, nhưng ông lại được yêu mến ở các nước A Rập khác. Ông thuyết giáo việc thờ cúng một Chúa và lên án việc say rượu, tính phóng túng và đa thê không có giới hạn. (Ông giới hạn một người đàn ông chỉ được lấy 4 người vợ). Số người ủng hộ ông tăng lên rất nhanh và khi ông  mất, quyền lãnh đạo phong trào được trao cho con rể ông là Abu Bakr.

Một trong những giáo lý đạo Hồi (của A Rập là “sự phục tùng”) đã gây ra chiến tranh với những người không tin, từ chối làm theo những lời dạy của nhà Tiên tri. Các cuộc chiến tranh ở A Rập đã nhanh chóng sản sinh ra nhiều vị tướng tài ba để chỉ huy lực lượng tín đồ. Vị tướng tài năng nhất là Khalid ibn al Walid.

Khalid ibn al Walid được tái hiên qua phim ảnh. Ảnh: Pinterest

Sau khi thống nhất các bộ tộc du cư người A Rập và những vương quốc ở bán đảo A Rập, những đội quân Hồi giáo tiến vào Mesopotamia và Syria. Có lẽ họ đã không thể lựa chọn một thời điểm tốt hơn. Đế quốc La Mã và Ba Tư đã gần như suy kiệt trong suốt cuộc chiến tranh lâu dài của họ. Vua Ba Tư đã qua đời vì bệnh dịch một năm sau khi ông dàn hòa với người La Mã, để lại một bé trai kế vị. Heraclius – thiên tài quân sự, người đã cứu đế quốc La Mã – đã ốm nặng tới mức không thể ra khỏi giường.

Một thuận lợi nữa cho người A Rập là đế quốc La Mã có nhiều mâu thuẫn tôn giáo. Sự xung đột giữa tín đồ đạo Cơ Đốc và tín đồ Thiên chúa theo thuyết Nhất tính (xem Cuộc nổi loạn Nika) đã trở nên tồi tệ hơn. Tín đồ Cơ Đốc cho rằng, Chúa Jesus có hai bản tính: ngài là con người và cũng là thánh thần. Tín đồ Thiên chúa theo thuyết Nhất tính thì tin rằng Chúa Jesus chỉ có một bản tính, một phần là con người và một phần là thánh thần. Ngày nay, một sự khác biệt khó hiểu như thế có lẽ không được chú ý bên ngoài trường Dòng, nhưng ở thế kỷ VII, nó là lí do để tàn sát và ngược đãi. Những tín đồ Thiên Chúa theo thuyết Nhất tính tập trung đông nhất ở phía đông nam của đế quốc La Mã. Những tín đồ Cơ Đốc đầu tiên trong khu vực đó đã cải đạo người Do Thái và tín đồ Thiên Chúa theo thuyết Nhất tính, theo một cách phù hợp hơn việc không tin thuyết Ba ngôi Nhất thể của họ. Những người ở trong khu vực này của đế quốc nói tiếng A Rập hoặc Syria tương tự như tiếng mẹ đẻ của họ, tiếng Hi Lạp và tiếng Latin như những ngôn ngữ thứ hai và thứ ba. Khi những tín đồ Hồi giáo nói tiếng A Rập tiến vào, cư dân địa phương chào đón họ như những người giải phóng chứ không phải kẻ xâm lược. Những người A Rập nhớ lời nhà Tiên tri của họ đã nói rằng, người theo đạo Cơ Đốc và người Do Thái là “những người trong kinh thánh”, là những tín đồ mắc một chút sai lầm của một vị Chúa thực sự và không nên bắt buộc họ trở thành những tín đồ Hồi giáo. Trong cuộc chiến tranh giữa tín đồ Hồi giáo với đội quân La Mã, dân cư bản địa đã ủng hộ tín đồ Hồi giáo. Chiến đấu trên mặt trận rộng khắp, những tín đồ Hồi giáo A Rập đã khiến những đơn vị phòng thủ của La Mã  kinh ngạc, và họ đã chiếm được nhiều thành phố, bao gồm Damascus.

Khi Heraclius nghe tin về cuộc tiến công chớp nhoáng của người A Rập ở Syria, ông đã tập trung một đội quân lớn ở Antioch và cử họ đi lấy lại Damascus. Biết tin quân La Mã đang đến, những người A Rập báo cho Khalid ibn al Walid – tổng chỉ huy của họ, người đang chiến đấu ở Mesopotamia. Khalid ra lệnh cho họ rút khỏi Damascus và chiếm một vị trí dọc theo dòng sông Yarmuk, ở cao nguyên Golan. Ông kêu gọi các đội quân A Rập đang phân tán khác gặp nhau ở Yarmuk và ông cũng sẽ dẫn đội quân 800 người do ông chỉ huy tham gia cùng họ.

Những đội quân

Trụ cột đội quân của Khalid là những người Ả Rập du cư. Những người A Rập du cư rất linh hoạt, có thể cưỡi cả ngựa và lạc đà. Những kị binh thì cưỡi ngựa, nhưng kị binh của Khalid khác với kị binh La Mã nặng nề, mặc áo giáp sắt dày và chủ yếu sử dụng giáo. Những người A Rập là những cung thủ, những người tham gia cuộc giao đấu sẽ không ở gần kẻ thù cho đến khi kẻ thù bị rối loạn. Họ chiến đấu trong những nhóm nhỏ dưới quyền người chỉ huy nhóm của họ và không bao giờ sử dụng tiến công hàng loạt làm yếu tố quyết định như sách lược của người La Mã và người Ba Tư. Hơn nữa, những người A Rập du cư sẵn sàng chiến đấu dưới đất cũng như trên ngựa. Kị binh của họ không kẻ cả, tự mãn – một thái độ đã ảnh hưởng xấu đến hầu hết các kị binh khác trong thời kì này.

Khalid cưỡi ngựa.
Khalid cưỡi ngựa. Ảnh: KIBERUMALIK

Quân đội La Mã đã thay đổi kể từ thời Narses. Nó không còn được tạo thành bằng việc kết hợp lính đánh thuê man rợ và những tùy tùng của người quyền quý. Giờ đây, đội quân này có một lực lượng chính quy kị binh và bộ binh được huấn luyện kĩ càng. Đơn vị cơ sở là một nhóm 300 hay 400 người được chỉ huy bởi một bá tước. Từ 6 đến 8 nhóm có thể kết hợp như một sư đoàn dưới sự chỉ huy của một công tước. Bộ binh La Mã hầu hết là các cung thủ hạng nhẹ và ở giai đoạn này họ không được coi trọng bằng kị binh. Kị binh đội mũ bảo hiểm bằng kim loại, mặc áo giáp sắt có vảy và mang gươm. Họ cũng sử dụng cả cây cung và giáo. Họ được huấn luyện diễn tập trong những đơn vị lớn và có thể tiến công kẻ thù bằng trận mưa tên hoặc tiến công hàng loạt bằng giáo tùy thuộc vào hoàn cảnh.

Trận đánh Yarmuk

Về mặt lí thuyết, Theodorus Trifhurius chỉ huy đội quân La Mã, nhưng đội quân này bao gồm nhiều đơn vị lớn độc lập. Những đơn vị trong đội quân Hồi giáo chiến đấu một cách độc lập, nhưng mọi tướng chỉ huy đều hoàn toàn tuân lệnh Khalid uy tín. Kị binh A Rập đã phá rối việc tiến lên của quân La Mã cho đến khi họ vào Golan – nơi có một dãy núi và khe núi không thuận lợi cho kị binh hoạt động. Đội quân chủ lực của người A Rập đã dàn trận dọc theo bờ phía nam của sông Yarmuk. Quân La Mã hạ trại ở phía bắc vị trí của quân A Rập và triển khai quân dọc theo một con sông. Hai đội quân vẫn ở nguyên tại chỗ hàng tuần trong suốt tháng 7 đến tháng 8 năm 636, trong khi người A Rập tiến hành một kiểu chiến tranh mới, liên tục đụng độ dưới cái nóng dữ dội.

Khe núi nằm ở chiến trường Yarmouk.
Khe núi nằm ở chiến trường Yarmouk. Ảnh: wikipedia

Bộ binh người A Rập vượt qua thượng lưu, đi về phía cửa sông nơi người La Mã đóng quân và đột kích phòng tuyến của quân La Mã với mục đích để quân La Mã đuổi theo họ. Ít người đuổi theo thì có thể phục kích, còn nếu nhiều người đuổi theo thì sẽ tạo một khe hở cho một cuộc tấn công lớn. Quân A Rập đã đi khắp nơi xung quanh vị trí quân La Mã để tìm kiếm cơ hội tấn công những người bị tụt lại phía sau. Họ trở nên quen với cảnh lộn xộn và các con đường phức tạp của các khe núi.

Quân A Rập càng ngày càng tiến công mạnh hơn. Vào ngày 16 tháng 8, Khalid cho đội quân chủ lực tiến công. Kị binh người A Rập ào ra từ những ngọn đồi để tấn công các vị trí của quân La Mã. Trong ba ngày, phòng tuyến của quân La Mã vẫn được giữ vững. Vào đêm ngày 19 tháng 4, một trận bão cát nổi lên với cơn gió nóng như thiêu từ phía nam. Kị binh La Mã không thể đương đầu với cơn bão và đã rút lui vào ngày hôm sau. Một số đồng minh A Rập trong quân đội La Mã đã đi theo họ, sau đó toàn bộ phòng tuyến của quân La Mã sụp đổ. Người A Rập nhảy lên ngựa và lạc đà của họ rồi đuổi theo quân La Mã, tiêu diệt những người đã bỏ chạy xa hàng ki lô mét. Nhiều lính La Mã rút lui đã bị lạc trong những khe núi. Quân Hồi giáo lúc đó biết rõ địa hình nên đã tiêu diệt họ.

Minh họa về Trận chiến Yarmouk
Minh họa về Trận chiến Yarmouk của một họa sĩ minh họa người Catalan ẩn danh (khoảng 1310-1325).

Sự phát triển của đạo Hồi

Trận chiến trên sông Yarmuk là chiến thắng lớn đầu tiên của tín đồ Hồi giáo A Rập trước đội quân chính quy của các đế quốc và vương quốc. Với việc đánh bại quân La Mã, những người A Rập tiến về hướng đông và xâm lược Ba Tư vào năm sau. Ở Ba Tư, dưới sự chỉ huy của Sa’ad ibn Abu Wakkas và sử dụng các chiến thuật giao chiến của Khalid, họ đã giành được một chiến thắng mang tính quyết định khác tại Kadisiyah (xem trận Kadisiyah). Sau đó, một nhóm người A Rập khác do Amr ibn al As chỉ huy đã tiến về hướng tây và tràn vào Ai Cập. Từ Ai Cập, những bộ tộc A Rập du cư mới được cải đạo đã cưỡi ngựa về hướng tây ngang qua Bắc Phi, cải đạo những người Berbers bản địa và xâm lược Tây Ban Nha. Từ Ba Tư, những đội quân người A Rập khác, với những tân binh mới khác, di chuyển vào Trung Á và thậm chí vào tận Trung Quốc. Những thủy thủ người A Rập từ hướng nam Arabia đi thuyền qua Ấn Độ Dương đến Đông Ấn và tới Philippines.

Có thể nói, chiến thắng của Khalid đã xây dựng nên Dar es Islam, vùng đất của đạo Hồi, đạo có ảnh hưởng lớn trên thế giới ít nhất cả nghìn năm sau.

William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây