Trận đánh Lechfeld, năm 955: bảo toàn nền văn minh phương Tây

0
61
Trận đánh Lechfeld, năm 955
Trận đánh Lechfeld, năm 955 , bức tranh năm 1860 của Michael Echter

Trận đánh Lechfeld, năm 955 giữa lực lượng của vua Otto I Đại đế của nước Đức với người Hungary. Với chiến thắng của Đức đã chấm dứt những cuộc đột kích phá huỷ Tây Âu của những bộ tộc du cư Âu – Á vào châu Âu La-tinh, do đó đã bảo toàn nền văn minh phương Tây.

Hoàn cảnh lịch sử

Khi thiên niên kỉ đầu tiên sắp kết thúc, phương Tây và Trung Âu dường như càng ngày càng rơi vào tình trạng hỗn loạn. Đế quốc La Mã phương Tây không sụp đổ ngay lập tức. Nó sụp đổ dần dần. Justinian đã khôi phục châu Phi và Italy, nhưng khi tổng trấn của ông là Narses (xem trận Busta Gallorium) rời Italy, những người Lombard đã xâm chiếm và tiếp quản phần lớn đất nước Italy. Sau đó những tín đồ Hồi giáo người A Rập xâm lược miền bắc châu Phi rồi tiếp tục chinh phục Tây Ban Nha. Họ bắt đầu đột kích vào trong Gaul, tiến tới nơi hiện giờ là miền Trung nước Pháp. Trong khi đó, những tên cướp biển Scandinavia đang đột kích ở khắp mọi nơi. Họ thiết lập các căn cứ tại Brittany và Scotland, xây dựng những thành phố ở Ireland, thành lập những nhà nước ở Anh, Normandy cùng với Nga và tiến công từ tất cả mọi hướng.

Khi những cuộc tiến công dữ dội này bắt đầu, đã có sự liên kết giữa những tù trưởng bộ lạc và những người La Mã có quyền thế – những người không đủ khả năng lãnh đạo người châu Âu phương Tây đoàn kết chiến đấu. Một vị vua người Frank là Charlemagne, đã cố gắng khôi phục đế quốc La Mã phương Tây, mặc dù lãnh địa của ông chỉ bao gồm những phần của đế quốc La Mã cũ – Gaul, phía tây German và bắc Italy. Đế quốc của Charlemagne sụp đổ vì sự tranh giành giữa những người thừa kế của ông và những cuộc tiến công của những người A Rập cùng những tên cướp biển ở Bắc Âu. Cách tốt nhất để đối phó với những cuộc đột kích là có kị binh hạng nặng, được huấn luyện kĩ càng và luôn sẵn sàng chiến đấu. Hơn nữa, cách duy nhất để nền kinh tế nguyên thủy có thể hỗ trợ cho những kị binh mặc áo giáp sắt là sử dụng sức lao động của những người nông dân trong mỗi vùng lân cận nơi binh lính đóng quân. Trong nhiều thế kỷ, châu Âu bao gồm những chúa đất và những nông dân. Và tất nhiên tiếp đó là những chúa đất trở thành hiệp sĩ và những nông dân trở thành nông nô. Việc bắt buộc những quý tộc mặc áo giáp và phần lớn là độc lập này tuân theo chính quyền trung ương là không thể.

Khi thế kỷ XX bắt đầu, những cuộc đột kích của cướp biển đã trở thành những cuộc xâm lược dốc toàn lực với những đội quân hải tặc đi khắp miền quê và nghỉ đông tại những trại được vũ trang. Những tên cướp biển người Ả Rập vẫn đang đột kích những bờ biển ở Địa Trung Hải và một hạm đội Ả Rập đã chiếm quần đảo Balearic từ tay người Frank. Các bộ tộc Slav, bây giờ được tổ chức thành những vương quốc chính thức, đã xâm lấn những vùng đất của German từ hướng đông. Rồi một kẻ thù mới đã xuất hiện.

Người Hungary

Những dân tộc du cư trên những thảo nguyên Âu – Á một lần nữa lại chơi những quân cờ đôminô. Người Uighur (Duy – Ngô – Nhĩ) Thổ Nhĩ Kì đã đánh đuổi những người Ả Rập ra khỏi Tarim Basin – lần thâm nhập sâu nhất của họ vào Trung Á – sau đó, người Uighur bị người Kirghiz Thổ Nhĩ Kì đánh bại và người Uighur lại đẩy người Pecheneg Thổ Nhĩ Kì đi về hướng tây. Người Pecheneg lại tiến công người Hungary – những người đã di chuyển đến thiên đường của dân du cư là đồng bằng của Hungary, để gia nhập với những hậu duệ người Hung Nô của Attila.

Những binh sĩ người Hung Nô
Những binh sĩ người Hung Nô (Ảnh: nghieucuulichsu.com)

Những người Hungary, có vẻ như đã yên bình chăm sóc ngựa và gia súc của họ cho tới khi vào vùng đồng bằng của Hungary, họ đã phản ứng theo cách mà dân du cư Âu – Á luôn luôn làm khi tiếp xúc với những người dân định cư: Họ bắt đầu đột kích, cưỡng đoạt, cướp bóc, chém giết và đốt phá.

Hungary có hệ thống quân đội từ xa xưa trên những thảo nguyên. Tất cả những người đàn ông đều là những chiến binh và tất cả những chiến binh đều là kị binh. Họ mặc áo giáp mỏng và vũ khí chủ yếu của họ là cây cung tổng hợp – một cây cung tạo thành từ những lớp dây thừng, gỗ, sừng – nó ngắn đủ để bắn từ trên lưng ngựa, và mạnh đủ để xuyên thủng áo giáp. Khi chiến đấu gần, họ dùng gươm và rìu chiến. Họ có thể cưỡi ngựa bao vây bất cứ đội bộ binh nào và bắn hạ địch thủ mà không cần phải tiến vào phạm vi tiến công của giáo. Họ chiến đấu trong những đơn vị hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn người và có thể tránh một cuộc tiến công của kỵ binh hạng nặng bằng cách giải tán theo mọi hướng.

Người Hungary đã mở đầu thế kỷ mới với một cuộc tiến công vào Bavaria trong năm 900. Sau 6 năm, họ tiến công vương quốc Moravia, đẩy người Slav ra khỏi Danube và thung lũng Theiss. Những vị vua Hungary đã phục hồi lại một truyền thống khác trên thảo nguyên: trả tiền để được bảo vệ, nói một cách lịch sự là cống nạp. Nếu những người dân định cư cống nạp hàng năm cho họ thì những binh lính Hungary sẽ ngừng các cuộc cướp phá tàn bạo. Năm 910, một số quý tộc German đã không chịu cống nạp, rồi huy động lực lượng để đối đầu với người Hungary. Những binh lính du cư dễ dàng tránh các cuộc tiến công của những hiệp sĩ và bắn hạ họ, thậm chí còn hạ cả ngựa của họ. Rồi người Hungary giết những hiệp sĩ đã xuống ngựa và bộ binh của họ. Sau đó người Hungary trở lại với cách tiến hành thông thường: giết tất cả đàn ông, bắt tất cả phụ nữ làm nô lệ, cướp tất cả vật nuôi và bất cứ thứ gì có giá trị rồi đốt tất cả những ngôi làng. Năm 924, người Hungary thực hiện một cuộc tiến công lớn chống lại những người dân định cư, họ đột kích khắp nơi dọc theo Danube và thung lũng Rhine. Càng ngày họ càng tiến công xa hơn, sau đó họ đột kích phía bắc Italy và xâm lấn dọc theo bờ biển Địa Trung Hải vào trong Provence. Tuy nhiên, sức mạnh chính của người Hungary lại nằm ở phần còn lại ở phía đông đế quốc của Charlemagne, đó là Germania.

Germania

Vương quốc Germania mang tính hình thức hơn là một nhà nước cụ thể. Germania có một vị vua nhưng những công tước Đức – những người không coi trọng quyền lực của nhà vua – đã bầu chọn vua. Bản thân những công tước cũng gặp rắc rối với việc thực thi quyền lực của họ với đám tiểu quý tộc – những người cai trị nông dân một cách hà khắc.

Đôi khi cũng có những người cố gắng khôi phục lại đế quốc. Arnulf -đứa con hoang của Carloman là vua Germania đã tự xưng là hoàng đế. Ông ta đã khuyến khích người Hungary tiến công người Slav mà không nhận ra mối đe dọa lớn hơn nhiều so với mối đe dọa từ những dân du cư. Tuy nhiên, ông ta đã làm một việc đúng đắn với những tên cướp biển.

Những tên cướp biển Na Uy đã trở nên quá kiêu ngạo. Lúc đầu, họ đã tiến công những khu định cư bằng những nhóm nhỏ, giết người, cướp bóc và bỏ đi xa trước khi người dân có thể tổ chức lực lượng phản công. Họ hoạt động thành những đội quân cướp biển, xây dựng những trại vững chắc và di chuyển vào đất liền trên lưng ngựa. Tuy nhiên, họ không được huấn luyện để chiến đấu như kị binh hay chiến đấu như những người bao vây hoặc bị bao vây. Năm 891, Arnulf tiến công một căn cứ kiên cố của cướp biển ở Louvain (vùng nước Bỉ ngày nay) và đã tiêu diệt những tên cướp biển. Mặc dù vậy, cuộc tiến công đó chỉ chấm dứt việc cướp biển đột kích vào German.

Tuy nhiên, điều đó không chấm dứt mối đe dọa từ vương quốc Đan Mạch – quê hương của nhiều cướp biển. Đó là một mối đe dọa lớn. Đội quân của một quốc gia có thể tàn phá nhiều hơn bất cứ một băng nhóm hải tặc nào.

Arnulf chết sau khi cai trị 11 năm và Germania lại quay trở về tình trạng hỗn loạn thông thường. Vua Saxony cố gắng tránh mối nguy hiểm từ những người Đan Mạch và những vị vua, hoàng tử, công tước và bá tước của tất cả các bang của German lại tiếp tục cống nạp cho người Hungary.

Đế quốc Hung
Đế quốc Hung (cam) thời kỳ cực thịnh, vào năm 450 (Ảnh: wikipedia)

Năm 918, Conrad of Franconia chết. Khi làm vua của Germania, ông ta giống như bù nhìn, không làm nên trò trống gì. Để thay thế ông ta, những cử tri German bỗng nhiên bị tác động mạnh bởi lẽ phải. Họ đã bầu Henry – vua của Saxony, vì biết ông đã hết lòng chống lại người Đan Mạch còn hơn cả việc đi săn với một chú chim lớn. Năm 933, Henry the Fowler đã tiến công những người Hungary đi thu thập đồ cống nạp  ở gần Erfurt. Những người Hungary không chuẩn bị sẵn sàng để chiến đấu, họ không nghĩ rằng kẻ thù được vũ trang. Vì vậy họ chạy trốn khỏi cuộc tiến công từ phía những hiệp sĩ mặc áo giáp của Henry. Chiến thắng này đã bảo đảm cho con trai của Henry là Otto, được bầu nối ngôi ông.

Otto là một người hiền hậu, có vóc dáng cao to với mái tóc màu đỏ đã lên ngôi vua ở tuổi 28. Ông từng là một người lính giàu kinh nghiệm, nhưng vì trong trận chiến ông thường đưa ra những quyết định một cách nhanh chóng và chỉ huy tiến công quyết liệt, nên bị cho là bốc đồng. Tuy nhiên, Otto không phải là một người lính “lỗ mãng, tầm thường”. Ông là một người lính được trao một sứ mệnh. Sứ mệnh của ông là khôi phục đế quốc của Charlemagne. Otto đã mất nhiều năm để thực hiện nhiệm vụ này. Khi ngôi vị kế thừa lãnh địa của một công tước bị bỏ trống, Otto sẽ xóa bỏ địa vị công tước bằng cách sáp nhập lãnh địa đó vào lãnh địa liền kề hoặc bổ nhiệm một người họ hàng của ông làm công tước. Tất nhiên, việc đó không dễ dàng đạt được mà không phải đấu tranh. Có nhiều trận chiến nhưng cuối cùng nó cũng kết thúc, Otto hùng mạnh đến mức có thể thực hiện ý định của mình ở Pháp và Italy cũng như ở German.

Việc xây dựng lại đế quốc của Charlemagne đã chiếm hết thời gian của Otto và những người Hungary đã lợi dụng sự xao lãng trong việc phòng thủ đất nước của Otto. Năm 937, khi tìm kiếm những vùng đất mới để cướp phá, những người Hungary bắt đầu đột kích Italy và tiến xa về hướng nam tới Monte Cassino, Tây German đồng thời tiến về hướng tây tới tận nước Bỉ (ngày nay) và miền trung nước Pháp. Năm 954, họ vượt qua Rhine và đột kích Metz, Cambrai, Rheims và Chalons. Vào mùa xuân năm 955, đội quân 100 000 kị binh Hungary một lần nữa lại xâm lược nước German và bao vây Augsburg. Nhưng lần này, Otto đã sẵn sàng chiến đấu với họ.

Trận đánh Lechfeld

Trận đánh Lechfeld
Trận chiến Lechfeld , một bức bích họa năm 1744 của Balthasar Riepp

Otto đã tổ chức 8 đội quân riêng biệt. Tất cả các đội quân đều tập trung về vị trí người Hungary đóng quân ở trên bờ sông Lech. Những hiệp sĩ mặc áo giáp đi cùng với bộ binh đánh giáo đã bao vây người Hungary ở Lechfeld (cánh đồng Lech). Những cung thủ cưỡi ngựa của bộ lạc du cư không có chỗ trống để thực hiện chiến thuật bắn tên và chạy trốn ưa thích của họ. Khi chiến đấu tay đôi, những người German được trang bị áo giáp có lợi thế hơn những người Hungary được trang bị vũ khí hạng nhẹ. Tuy vậy, trận chiến cũng kéo dài tới 10 tiếng đồng hồ. Khi trận chiến kết thúc, những người dân du cư gần như bị tiêu diệt hoàn toàn. Họ trốn về Hungary. Sau đó 15 năm, tất cả bọn họ đã đồng ý trở thành tín đồ Thiên chúa giáo. Mối ảnh hưởng đến từ người Hungary đã chấm dứt mãi mãi.

Năm 962, Giáo hoàng đã tôn Otto I là hoàng đế của La Mã. Sau đó, Otto được gọi là Otto Đại đế, trở thành người kế tục sự nghiệp của Charles Đại đế và trên lí thuyết sẽ kế tục sự nghiệp của tất cả hoàng đế La Mã. Sau đó, đế quốc mà Otto khôi phục được gọi bằng một cái tên lạ là Đế quốc La Mã thần thánh của người German, nó tồn tại trong nhiều thế kỷ cho đến khi xuất hiện một hình bóng của một đế quốc được hình thành bởi những chiến binh từ bờ sông Tiber. Hình bóng của đế quốc ấy kéo dài cho đến tận thời Napoleon I.

Thực tế, một điều quan trọng hơn so với việc khôi phục lại một đế quốc là trận Lechfeld đã vĩnh viễn chấm dứt những cuộc tiến công vào Tây Âu của các bộ tộc trên thảo nguyên Âu – Á. Những cuộc tiến công đó đã khởi đầu với Cimmerians trước khi La Mã hình thành. Chúng diễn ra trong những khoảng thời gian đều đặn kể từ Attila (Xem trận Trận Châlons năm 451), khiến châu Âu rơi vào một thời kì đen tối trong nửa thiên niên kỉ.

William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

Xem thêm:

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây