Trận đánh Hattin, năm 1187: cuộc chiến ở vùng đất Thánh

0
183

Trận đánh Hattin, năm 1187 giữa quân Thập tự (Guy de Lusignan) với người Hồi giáo (Saladin). Với chiến thắng oanh liệt của vua Saladin làm thay đổi số phận của đạo Cơ Đốc và đạo Hồi tại Jerusalem

Xem thêm: Trận Kadisiyah, năm 637: Chiến thắng quan trọng của người Hồi giáo

“Hiệp sĩ người Frank tiến công rất dữ dội với thanh gươm lớn, giáo và khiên, vì vậy tốt nhất ngài nên tránh một trận tổng hội chiến với họ cho đến khi chuẩn bị đầy đủ mọi thứ”.

Nhà thông thái Leo đã khuyên hoàng đế của đế quốc La Mã phương Đông như vậy. Leo đang nghĩ về những hiệp sĩ thuộc Đế chế Caroligian của người Frank, nhưng kĩ thuật theo kiểu hiệp sĩ của Charlemagne được bắt chước trên khắp châu Âu khi những cuộc Thập tự chinh bắt đầu. Mặc dù vậy, có lẽ lúc đầu quân Thập tự đã áp đảo người Pháp và người Norman, người ở đế quốc La Mã phương Đông cũng như các tín đồ Hồi giáo, nên tất cả những người phương Tây đều được coi là “người Frank”. Và lời khuyên của Leo là hợp lí.

Chiến tranh ở châu Âu – với khí hậu ẩm ướt của những bán đảo và quần đảo, được những khu rừng che phủ và bị chia cắt bởi những dòng sông, những ngọn núi – nghĩa là chiến đấu ở khoảng cách rất gần. Những hiệp sĩ mặc áo giáp rất dày và lính bộ binh thì cố gắng mặc nhiều áo giáp hết mức có thể. Thường thì những con ngựa chiến to lớn của hiệp sĩ cũng được mặc áo giáp. Yên của ngựa chiến giúp cho hiệp sĩ dồn sức mạnh của mình và của ngựa vào nhát giáo. Giáo và gươm là những thứ vũ khí duy nhất của hiệp sĩ ở phương Tây còn tiến công là chiến thuật duy nhất của họ. Những kị binh của thảo nguyên không bị rừng cây cản trở hoặc các dòng sông có thể làm chủ những khu vực rộng khi họ đụng độ. Họ hầu như phụ thuộc vào cây cung và thường chỉ tiến công sau khi kẻ thù của họ đã bị suy yếu hoàn toàn vì môn bắn cung. Những chiến thuật quân sự châu Á để lại một chút khoảng trống cho bộ binh ngoại trừ lúc bao vây.

Những bộ binh người Frank – từng đánh bại người La Mã, Goths, Vandal, Hung Nô và A Rập trong nhiều thế kỷ, đã không quên cách chiến đấu. Họ được trang bị giáo, khiên và một vũ khí mới: cái nỏ vừa được cải tiến. Anna Comnena – công chúa của đế quốc La Mã phương Đông đã miêu tả thứ công cụ mới ấy trong tay của người lính Thập tự đầu tiên: “Nó là vũ khí mà những người Hi Hạp và người man rợ không biết đến. Người sử dụng vũ khí khủng khiếp này không dùng tay trái giữ nó và tay phải kéo sợi dây. Anh ta đạp cả hai chân lên cây cung, trong khi ráng sức căng dây cung với toàn bộ lực của cánh tay… khi sợi dây được bật ra, mũi tên rời khỏi đường rãnh với một sức mạnh không có gì mà nó không xuyên qua được. Nó không chỉ xuyên qua một cái khiên mà còn xuyên qua cả áo giáp và đâm vào người lính.”

Hệ thống quân đội của quân Thập tự dựa trên sự kết hợp chặt chẽ  của những người lính bắn nỏ, bộ binh mang giáo và những hiệp sĩ mặc áo giáp rất dày. Những người lính mang giáo được huấn luyện để ngăn cản các cung thủ người Thổ Nhĩ Kì trên lưng ngựa đến gần hiệp sĩ. Những hiệp sĩ này điều khiển ngựa chiến chờ cho đến khi họ bước vào chiến đấu. Cứ giữa hai người lính mang giáo lại có một người lính bắn nỏ để bắn hạ người Saracens trước khi những người này có thể tiến đủ gần để bắn bằng cung của họ. Nếu những tín đồ Hồi giáo không tiến công liên tục để phá vỡ hàng ngũ của tín đồ Công giáo, thì bộ binh bên Công giáo sẽ mở rộng hàng của họ và những hiệp sĩ ngồi trên ngựa sẽ tiến công. Như ở trận Marathon, người phương Tây có áo giáp sắt dày hơn và mang những cây giáo dài hơn. Do vậy, trừ khi có quân số lớn hơn rất nhiều còn không thì người Hồi giáo luôn luôn thua trận.

Người Thổ Nhĩ Kì

Khi những người tùy tùng của Mohammed vượt qua bán đảo Arabia vào trong vùng đất Bắc Phi, Syria và Mesopotamia của người La Mã, họ đã phát hiện ra có đồng minh. Sự xung đột giữa tín đồ Thiên Chúa giáo và tín đồ theo thuyết Nhất tính (xem “Cuộc nổi loạn Nika”) vẫn tiếp diễn. Tín đồ Thiên Chúa giáo kiểm soát Constantinople – vì vậy tín đồ theo thuyết Nhất tính ở vùng Cận Đông đã hoan nghênh tín đồ Hồi giáo như những người giải phóng. Nhà tiên tri của A Rập đã dạy họ rằng những tín đồ Thiên Chúa giáo và người Do Thái là “những người trong Kinh Thánh” và phải được tha thứ, vì vậy việc chinh phục phải diễn ra một cách nhẹ nhàng.

Sau khi thiết lập chính quyền cai trị, những tín đồ Hồi giáo mua những người ngoại giáo Thổ Nhĩ Kì như mua những nô lệ, cải đạo và biến họ thành những người lính, được gọi là “mamluks”. Sau đó, những mamluks đã lật đổ chủ và trở thành những kẻ thống trị.

So với người A Rập và Ba Tư, người Thổ Nhĩ Kì là những người xa lạ. Họ không hiểu tất cả sự tinh tế của đạo Hồi, chẳng hạn như tại sao họ phải đặc biệt chiếu cố cho những tín đồ Thiên Chúa giáo và những người Do Thái? Đây là lí do tại sao quân Thập tự đã ở vùng đất Thánh. Một lí do khác là Giáo hoàng mong muốn hướng quý tộc và hiệp sĩ sang việc khác để họ khỏi đánh nhau và tàn sát những nông dân Công giáo.

Người Thổ Nhĩ Kì cũng giống như những hiệp sĩ Công giáo, họ ưa thích việc chiến đấu, thậm chí là đánh lẫn nhau. Đế quốc Seljuk đã tan vỡ trong một cuộc xung đột giữa những vị vua đối địch, những tù trưởng và những tiểu vương. Vào lúc sự rối loạn này lên đến đỉnh điểm, những người Frank xuất hiện và tạo dựng các công quốc Thập tự quân.

Vua Saladin
Vua Saladin (Ảnh: nghiencuulichsu.com)

Sau đó, một nhà lãnh đạo mới, một vị vua người Kurdish tự gọi mình là El Malik en Nasir Salehed-Din, xuất hiện. Người Frank gọi ông là Saladin, ông đã chinh phục các nước Hồi giáo nhỏ, hết nước này đến nước khác. Rồi sự chú ý của ông chuyển sang những tín đồ Công giáo. Trong tám năm, vua Baldwin IV của Jerusalem – một người mắc bệnh phong – nắm quyền lực của Hoàng gia lúc 16 tuổi rõ ràng là giỏi hơn và đã đánh bại Saladin vĩ đại. Nhưng sau đó, vị vua này –  một trong số những vị tướng bị xem thường nhất trong lịch sử, băng hà. Khi biết mình sắp chết, vua Baldwin đã bổ nhiệm em rể mình là Guy de Lusignan làm quan nhiếp chính, nhưng Guy tỏ ra quá kém cỏi, vì vậy nhà vua đã bãi chức ông ta và thay vào đó bổ nhiệm Bá tước Raymond của Tripoli. Tuy nhiên, khi Baldwin qua đời, em gái ông là Sybilla đã tổ chức một nhóm đảo chính đưa chồng bà ta lên làm vua.

Nhiều hoạt động chính trị ở đế quốc La Mã phương Đông

Thập tự chiếm thành Jerusalem
Bức tranh thời Trung Cổ vẽ cảnh quân Thập tự chiếm thành Jerusalem trong cuộc thập tự chinh lần thứ nhất. (Ảnh: wikipedia)

Vua Guy nhanh chóng chứng tỏ rằng ông không thể kiểm soát được những nam tước của mình chứ chưa kể đến Saladin. Bá tước Raymond -người nghĩ rằng mình phải được làm vua – và Reynald de Chatillon là hai nam tước khó kiểm soát nhất. Reynald đã trải qua nhiều năm trong một nhà tù Hồi giáo, ông là người cuồng tín. Ông ta nói sẽ không bao giờ hứa gì với một người không theo đạo. Ông ta cũng từng là kẻ cướp và hải tặc, đã từng cướp bóc và giết tín đồ Công giáo cũng như Hồi giáo. Khi Reynald phá vỡ việc đình chiến với Saladin bằng cách tiến công một đoàn tín đồ Hồi giáo, vị vua Hồi giáo đã bao vây lâu đài của ông ta, song bị vua Baldwin đánh đuổi và buộc phải kí một hiệp định đình chiến khác. Nhưng trước khi việc này xảy ra, Raymond đã bảo vệ lợi ích riêng của mình bằng cách kí một hiệp định đình chiến riêng với Saladin.

Khi Guy trở thành vua, tu viện trưởng nhà thờ Temple là Gerard of Ridfort đã xúi giục ông chuyển sang chống lại Raymond. Tuy nhiên, Saladin lại chuyển lời rằng ông sẽ ủng hộ Bá tước của Tripoli ,Saladin yêu cầu Raymond cho phép ông vượt qua lãnh thổ của Raymond để đột kích Acre. Raymond đồng ý với điều kiện là cuộc đột kích không được kéo dài hơn 24 giờ và không được làm hại một tín đồ Công giáo nào.

Khi 7000 kị binh của Saladin đang trên đường trở về sau khi “thăm viếng” Acre thì bắt gặp một nhóm 130 hiệp sĩ dưới quyền tu viện trưởng nhà thờ Temple ở Sephoria. Những hiệp sĩ này là đại sứ mà Guy gửi đến Raymond. Gerard không lưỡng lự, ông ra lệnh tiến công. Vận may ưu ái người can đảm, nhưng không phải theo một cách ngớ ngẩn. Hầu như tất cả những tín đồ Công giáo đã bị giết. Gerard bỏ đi. Chiến tranh đã bắt đầu với tín đồ Hồi giáo, Raymond dàn hòa với Guy và gia nhập đội quân mà vua đang gây dựng. Bằng cách tước đoạt các lâu đài ở hầu hết những nơi đóng quân và lấy sạch tiền trong quốc khố, Guy đã tập hợp được 1200 hiệp sĩ, 2000 kị binh Turcopole trang bị vũ khí hạng nhẹ và 10 000 bộ binh. Tuy nhiên, Saladin đã xây dựng được một đội quân lớn hơn nhiều. Ông ta bao vây Tiberias, nơi có lâu đài của Raymond.

Thật đáng ngạc nhiên, Raymond là người nổi tiếng hết lòng vì lợi ích riêng của mình đã phản đối việc cố gắng giải vây cho Tiberias. Ông ta nói đó là một pháo đài vững chắc và vợ ông là công nương Eschiva có thể kháng cự trong thời gian dài. Lúc đó là giữa mùa hè. Saladin sẽ chỉ tìm thấy rất ít cỏ khô cho lực lượng kị binh khổng lồ của mình. Ông ta sẽ sớm phải từ bỏ việc bao vây. Còn nếu Tiberias thất thủ, tổn thất của công nương Eschiva cũng không thể lớn bằng tổn thất của đất nước.

Ý định của Raymond là tốt nhưng không ai tin ông. Cả Reynald và Gerard of Ridfort đều phản đối. Reynald sống để chiến đấu với những tín đồ Hồi giáo, còn Gerard muốn xóa bỏ sự hổ thẹn vì bỏ chạy trong trận đánh ở Sephoria. Như một sự thỏa hiệp, Guy đưa quân đội đến Sephoria – thị trấn gần Tiberias – nơi có nhiều nước và cỏ khô. Nếu Saladin tiến công họ ở đó, ông ta chắc chắn sẽ thua. Nhưng đêm đó, Gerard đã lẻn vào trại của Guy và buộc nhà vua phải cố gắng giải vây cho Tiberias.

Trận đánh Hattin

Trận đánh tại Hattin
Trận đánh tại Hattin, từ một bản thảo từ thế kỷ 15 (Ảnh: wikipedia)

Kế hoạch là tiến công trực tiếp nguồn cung cấp nước của Saladin – biển hồ Galilee. Không có nước, tín đồ Hồi giáo sẽ phải rút lui. Những sách lược này là đòn tiến công mạnh của người Công giáo được thời gian kiểm chứng. Lính kị binh và bộ binh được mặc áo giáp dày. Người ít nhất cũng được mặc áo khoác bằng bông hoặc nỉ – thứ có thể chống lại những mũi tên một cách hiệu quả đến đáng ngạc nhiên.

Beha ed-Din Ibn Shedad, một quan chức Hồi giáo và là bạn của Saladin đã viết: “Tôi đã thấy những người lính với 21 mũi tên cắm trên người mà vẫn ung dung hành quân”.

Tuy nhiên, Shedad đã không thấy những người lính “ung dung” hành quân như thế nào vào tháng bảy. Thời tiết rất nóng, áo giáp sắt trở nên nóng rực khi bị phơi dưới ánh mặt trời. Chưa đến buổi trưa, nhiều người lính đã uống cạn bi đông nước của họ. Kị binh Thổ Nhĩ Kì và A Rập dường như có mặt ở khắp mọi nơi. Họ bao vây những người Công giáo, bắn tên và xông tới sau những đám bụi. Những người lính bắn nỏ cố gắng phản công nhưng họ không thể giương nỏ của mình trong khi đang đi. Họ phải dừng lại, giữ nỏ bằng chân và kéo dây cung bằng cả hai tay. Mỗi khi những người lính bắn nỏ dừng lại thì toàn bộ đội quân cũng phải dừng. Sự phối hợp giữa lính bắn nỏ, bộ binh mang giáo và kị binh là điều cốt lõi trong những sách lược của quân Thập tự.

Kị binh Turcopole chiến đấu theo kiểu Thổ Nhĩ Kì, nhưng họ bị áp đảo bởi rất nhiều kị binh hạng nhẹ Hồi giáo. Những hiệp sĩ Công giáo đã tiến công dồn dập, nhưng những con ngựa của người Hồi giáo nhanh nhẹn hơn chạy ra xa mỗi lúc bị tiến công. Với những hiệp sĩ mặc áo giáp dày, thời tiết là kẻ còn thù nguy hiểm hơn cả người Hồi giáo. Một số hiệp sĩ đã bị chết ngạt trong những cái mũ đóng kín. Sau đó, những hiệp sĩ của nhà thờ Temple (những người bảo vệ phía sau) chuyển lời rằng ngựa của họ không thể đi xa hơn được. Guy nhìn thấy làng Hattin – nơi có những ngôi nhà – chắc phải có nước. Ông  ra lệnh tạm dừng ở ngôi làng nhưng khi đến nơi, quân Thập tự chỉ thấy cái giếng khô và ngôi làng bị bỏ hoang. Tuy nhiên, những người lính đã quá mệt, không thể đi tiếp.

Saladin bao vây ngôi làng và phân phát thêm nhiều mũi tên cho binh lính. Ông mang theo tới 70 con lạc đà chất nặng những mũi tên. Saladin dựng lều trên đồi, nơi ông có thể quan sát rõ toàn bộ chiến trường. Không giống những người chỉ huy quân Thập tự, Saladin là một nhà chiến lược chứ không phải là một chiến binh. Ông căm ghét chiến tranh, sử dụng vũ khí vụng về và không bao giờ đứng ở hàng đầu binh lính của mình.

Vào ngày thứ hai của trận chiến, người Hồi giáo đốt cháy các bụi cây và những tín đồ Thiên Chúa giáo đang chịu đựng cơn khát kinh khủng lại phải đánh nhau ngay cạnh ngọn lửa. Khi Guy nỗ lực tập trung những người lính đã mất sự liên kết thì những tín đồ Hồi giáo lại tiến công hiệu quả hơn. Những người lính của Guy đang chết vì khát trong khi biển hồ Galilee cách đó chưa đầy 5km, chỉ cần vượt qua một dãy núi xuống dốc là đến.

Một người lính bộ binh hét lên: “Chúng ta hãy tự cứu lấy mình”. Đám bộ binh lộn xộn chạy tán loạn về phía dãy núi. Mặc dù đã cố gắng nhưng những người lính mang giáo và lính bắn nỏ không thể phối hợp được với nhau. Hơn nữa họ đã quá mệt để có thể chiến đấu tiếp. Một số còn không thể đứng được nữa. Họ đầu hàng. Beha ed-Din thấy một lính Hồi giáo trói và dẫn 30 lính Công giáo đi.

Raymond của Tripoli tập hợp các hiệp sĩ của mình, phá và vượt qua vòng vây của những cung thủ. Guy cùng số quân còn lại cố gắng chống cự trên đồi, nhưng những người Hồi giáo đã đánh tan họ.

Trận đánh đã kết thúc. Gần như tất cả những binh lính Công giáo ở Palestine đã bị giết hoặc bị bắt. Saladin đưa những bộ binh của quân Thập tự còn sống sót tới chợ nô lệ, và chặt đầu tất cả các hiệp sĩ dòng Đền và hiệp sĩ Cứu tế. Ông giữ lại các quý tộc để đòi tiền chuộc. Mặc dù vậy, ông không nhận được nhiều tiền chuộc. Những tù nhân mà ông thích, như vua Guy thì ông thả ra mà không cần tiền chuộc. Còn những quý tộc khác mà tiền chuộc đến chậm, ông giết họ để làm trò vui trong bữa tối cho các vị khách của mình .

Ngay sau trận chiến, các chỉ huy của quân Thập tự được đưa đến lều của Saladin. Ông  trao cho vua Guy một cốc nước lạnh. Guy uống một phần và đưa cốc nước cho Reynald de Chatillon. Saladin nổi giận vì ông đã thề với bản thân là sẽ chặt đầu Reynald.

Saladin nói người phiên dịch: “Hãy nhắc nhà vua rằng chính ông ấy chứ không phải ta đưa nước cho người này.”

Một lát sau, vị vua Hồi giáo yêu cầu Reynald bỏ đạo Cơ Đốc. Như ông dự đoán, người chỉ huy quân Thập tự khinh khỉnh từ chối. Saladin vung gươm lên, nhưng ông vẫn vụng về như mọi khi nên đã chém đứt tay của Reynald thay vì chặt đầu ông ta. Sau phút bối rối, những người hầu của Saladin ngay lập tức chặt đầu nam tước.

Khởi đầu của kết thúc

Vua Guy của Jerusalem
Vua Guy của Jerusalem (Ảnh: wkipedia)

Saladin đã thả Guy với điều kiện ông ta phải rời khỏi vùng đất Thánh. Guy ngay lập tức thất hứa. Ông tới Tyre, hi vọng tiếp tục cuộc chiến, nhưng đơn vị lính đóng quân ở đó đã không công nhận ông. Tuy nhiên, ở châu Âu, hoàng đế La Mã sùng đạo cùng vua Anh và Pháp đã bắt đầu một cuộc Thập tự chinh mới. Hoàng đế La Mã qua đời trên đường đi, nhưng vua Pháp và Anh thì đến nơi. Richard Lionhearted đã tiến gần đến Jerusalem, nhưng ông nhận ra rằng một đơn vị đóng quân ở đây có thể dễ dàng bị cung thủ người Thổ Nhĩ Kì và người A Rập tiêu diệt. Chỉ một đội quân rất lớn mới có thể khôi phục lại quân Thập tự ở Jerusalem. Richard kí một hiệp định đình chiến với Saladin. Quân Thập tự có thể cố gắng bám lấy một phần nhỏ còn lại của vùng đất Thánh thêm một thế kỷ nữa, nhưng động cơ chiến tranh thì không còn.

Với số dân tại thời điểm đó, kết quả này là không tránh khỏi. Điều khiến Hattin có tầm quan trọng lớn nhất là ảnh hưởng của nó với đạo Hồi chứ không phải đạo Cơ Đốc. Nó thuyết phục người Hồi giáo rằng những sách lược cổ xưa với những cung thủ trên ngựa từ nhiều thế kỷ trước của người Scythia và Parthia là vô địch. Những người A Rập đã biết về chất diêm tiêu (nitrat kali) mà họ gọi là “tuyết từ Trung Quốc” và sử dụng nó trong thuốc súng từ rất lâu trước người châu Âu, nhưng họ lại không chú ý đến việc phát triển súng. Các cung thủ trên lưng ngựa không thể sử dụng những khẩu súng đại bác, cũng như súng hoả mai của người châu Âu và sẽ vô ích khi dùng chúng chống lại họ.

Vì vậy những vị vua Hồi giáo rất ung dung, tự tin về sự vô địch của họ và ngày càng giàu có hơn nhờ việc buôn bán giữa châu Âu và Viễn Đông. Và ba thế kỷ sau, chúng ta sẽ thấy trong trận đánh kế tiếp, đỉnh cao này đã sụp đổ.

William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

Xem thêm:

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây