Trận đánh Arbela, năm 331 tr.CN: sự sụp đổ của đế quốc Ba Tư

457

Thời cổ đại, Hi Lạp là trung tâm của nền văn minh Phương Tây. Khi ấy sự đe dọa lớn nhất của Hi Lạp đến từ đế quốc Ba Tư hùng mạnh. Trận đánh Arbela, năm 331 tr.CN, Alexander Đại đế đã giải quyết mối nguy này cho Hi Lạp trong cuộc chinh phạt vĩ đại của mình

Các bên tham chiến: Hi Lạp (Alexander Đại đế) với Ba Tư (Darius).

Ảnh hưởng đến: nền văn minh phương Tây.

Quân đội Ba Tư

Người Hi Lạp đều biết đế quốc Ba Tư lớn mạnh nhưng từ trước đến nay chưa bao giờ điều này được thể hiện rõ như vậy. Đội quân của Darius III không phải có một triệu lính hùng mạnh như một số học giả thời cổ đại đã khẳng định. Đó là con số phi lí. Tuy nhiên, số quân của Darius III lớn hơn rất nhiều so với 40 000 bộ binh và 7000 kỵ kinh trong quân đội của Alexander. Người Hi Lạp thấy hàng quân Ba Tư dài đến mức có thể dễ dàng bao vây cả hai bên sườn của họ. Cả hai cánh của quân Ba Tư đều được các kỵ kinh nắm giữ. Bao gồm: kỵ kinh được trang bị vũ khí hạng nặng, cả người và ngựa đều mặc áo giáp. Số còn lại là kỵ kinh được trang bị vũ khí hạng nhẹ (họ là những cung thủ cưỡi ngựa đáng sợ trên thảo nguyên). Ở giữa hai cánh kỵ kinh là hai hàng bộ binh. Trung tâm của hàng đầu tiên là lính đánh thuê Hi Lạp được trang bị vũ khí hạng nặng, trấn giữ bên sườn là đội cận vệ hoàng gia Ba Tư – những người lính thiện chiến nhất của Darius Đại đế. Và Darius đứng ở chính giữa đội cận vệ hoàng gia.

Hình ảnh quân đội Ba Tư
Hình ảnh quân đội Ba Tư (Ảnh: Danviet)

Phía trước và trung tâm của quân đội Ba Tư là 15 con voi, những con vật mà người Macedo chưa nhìn thấy trước đó bao giờ. Ở mỗi bên đàn voi là 100 xe ngựa gắn lưỡi hái trên bánh xe. Có vẻ như Darius tập trung nhiều vào những chiếc xe ngựa. Ông đã san bằng cánh đồng phía trước đội quân để xe ngựa có thể hoạt động hiệu quả. Đó là điểm đặc trưng của Darius – ngu dốt về chiến lược. Cánh đồng được san bằng giữ chặt đội quân của ông đứng tại chỗ một cách cứng nhắc còn hơn cả việc ông nhốt họ trong một pháo đài. Đội quân không những không di chuyển được mà họ còn không thể đổi hướng nếu Darius sử dụng xe ngựa. Darius không thấy được nhược điểm này nhưng đối thủ của ông thì biết rõ.

Alexander Đại đế

Alexander Đại đế
Một bức họa của Alexander Đại đế (Ảnh: dkn.tv)

Vị vua trẻ của Macedon (kinh đô cổ của Hi Lạp) có nhiều khuyết điểm: Ông là người tàn nhẫn, có thể thực hiện những hành động cực kì tàn ác và rất tự mãn. Tuy nhiên ông không hề ngu dốt – đặc biệt là về chiến lược. Alexander đã do thám vị trí của quân Ba Tư, nắm được chi tiết trật tự bố trí các đơn vị trong đội quân của họ và ông để họ chờ đợi. Darius đã chờ đợi ở cánh đồng được san bằng nhiều ngày cho đến khi Alexander quyết định tiến công.

Trước đó, Alexander đã đánh bại người Ba Tư hai lần. Lần thứ nhất, Alexander chỉ huy kỵ kinh được trang bị vũ khí hạng nặng vượt qua sông Granicus và đánh đuổi 20 000 kỵ kinh Ba Tư được trang bị vũ khí hạng nhẹ. Sau đó, đội quân còn lại của ông đã đánh bại 20 000 lính bộ binh đánh thuê Hi Lạp dưới quyền Memnon xứ Rhodes. Alexander đã phóng thích tù binh Ba Tư và tàn sát lính Hi Lạp mà ông gọi là những kẻ phản bội.

Quan điểm tất cả người Hi Lạp nên đoàn kết trong chiến dịch chống lại Đế chế Ba Tư là điều mà Alexander kế thừa từ người cha – vua Philip II của Macedon. Vua Philip hoàn toàn đồng tình với niềm tin truyền thống rằng có hai loại người: người Hi Lạp và “người man rợ”. Ông có lý do thiết thực để khuyến khích niềm tin này: người Hi Lạp chỉ liên kết khi đối mặt với một kẻ thù chung và ông muốn người Hi Lạp đoàn kết dưới trướng mình. Quan điểm từ xưa và văn hóa của các thành bang Hi Lạp do vị vua Macedonia chỉ đạo đã thu hút nhiều người Hi Lạp. Người Macedonia là những người Hi Lạp ở vùng núi xa, tuy lạc hậu nhưng họ vẫn có vua. Philip đã đạt được mục tiêu bằng cách phát triển đội quân vượt trội hơn bất cứ lực lượng nào ở Hi Lạp. Sau khi đánh bại các thành bang Hi Lạp, ông đã thành lập một liên minh bao gồm tất cả các thành bang trên đất liền ngoại trừ Sparta – một thành bang mà ông coi khinh.

Vị vua người Macedonia đã không thể tiến xa hơn được nữa bởi vì ông đã bị ám sát. Cuộc nổi loạn bùng nổ ở Hi Lạp nhưng nó đã bị Alexander nhanh chóng dập tắt. Alexander đã chứng tỏ ông có thể điều hành tổ chức mà cha ông đã sáng lập ra.

Cơ sở tổ chức quân sự Macedonia là một kiểu đội hình phalanx mới. Những người lính Macedonia trong đội hình phalanx đội mũ và đeo xà cạp bằng kim loại nhưng không mặc áo giáp bằng đồng. Họ dùng cây giáo dài 5,4m gọi là sarissas thay cho cây giáo dài 2,4m của Hi Lạp. Họ sử dụng tấm khiên nhỏ hơn các tấm khiên khổng lồ với bề mặt bằng đồng của bộ binh hạng nặng và dùng những thanh gươm dài hơn. Họ có thể di chuyển nhanh hơn những người lính trong đội hình phalanx Hi Lạp và có thể chuyển động linh hoạt trong đội hình nhỏ cũng như trong đội hình lớn.

Vua Philip sử dụng đội hình phalanx này để buộc quân thù ở tại chỗ, ông dùng những kỵ kinh được trang bị vũ khí hạng nặng để đánh bại chúng. Những  kỵ kinh hạng nặng thiện chiến nhất (Lính cận vệ của nhà vua) được trang bị mũ sắt, áo giáp, khiên, gươm và giáo. Người Macedonia không giống như phần lớn người Hi Lạp, họ là những người giỏi cưỡi ngựa. Thời đó, không có kỵ kinh nào trên thế giới có bàn đạp ở yên ngựa. Chỉ có người được huấn luyện từ nhỏ mới có thể vừa ngồi trên ngựa vừa tiến công bằng một cây giáo. Để theo sát và phá rối quân thù, Philip có kỵ kinh hạng nhẹ được trang bị cung tên hoặc lao và gươm. Sau này, Alexander đã thêm vào một đội kỵ kinh hạng nặng siêu việt, gọi là Sarissophoroi, sử dụng giáo dài của bộ binh.

 Philip đã sáng tạo một kiểu lính mới là “hypaspists” để tạo ra liên kết giữa kỵ kinh hạng nặng và đội hình phalanx. Những “hypaspists” đội mũ sắt và cầm khiên nặng hơn khiên của binh lính trong đội hình phalanx Macedonia, nhưng lại nhẹ hơn khiên của những bộ binh hạng nặng. Giáo của họ tương tự như giáo của bộ binh hạng nặng trước đó. Họ di chuyển linh hoạt hơn những người lính trong đội hình phalanx và có thể chiến đấu cả trong đội hình phalanx và đội hình mở rộng.

Đế chế của Alexander đại đế
Đế chế của Alexander đại đế (Anhr: wikipedia.org)

Bộ binh linh hoạt nhất của Philip là các cung thủ, lính ném đá, ném lao – những người mặc áo giáp ngắn. Để chiến đấu trên tầm xa và bao vây quân thù, ông dùng máy bắn tên và máy bắn đá. Những thứ này được các thành bang Hi Lạp sử dụng ở Sicily và Italy nhưng ít khi được sử dụng trên bán đảo Hi Lạp. Các kĩ sư của Philip đã sáng tạo ra một loại pháo mới và mạnh hơn nhiều: sử dụng các sợi dây thừng nhỏ được bện lại thay vì cung để bắn đạn.

Tổ chức quân đội của Macedonia phức tạp hơn nhiều so với đội hình phalanx cũ của Hi Lạp. Họ cũng được huấn luyện tốt hơn. Philip đã có đội quân thường trực đầu tiên trên thế giới, được tuyển mộ theo nghĩa vụ quân sự.

Sau khi đánh tan các thành bang nổi loạn vì cái chết của cha,  Alexander san bằng thành Thebes và tàn sát 6000 người Thebes, ông tuyển mộ thêm lính từ các bang khác của Hi Lạp để chuẩn bị cho cuộc viễn chinh Ba Tư. Trận Granicus chỉ là một cuộc diễn tập cho quân đội của ông. Quân của ông đông hơn lực lượng của Đế chế Ba Tư và Memnon của xứ Rhodes đã ngốc nghếch khi cố gắng giữ vùng bờ sông Granicus bằng kỵ kinh thay vì bộ binh trang bị vũ khí hạng nặng. Sau khi kiểm soát được Tiểu Á, Alexander đã hành quân xuống bờ biển Địa Trung Hải để chiếm các căn cứ hải quân của Ba Tư. Ông muốn đảm bảo được hậu phương của mình trước khi truy kích quân Ba Tư.

Lần này, Darius xuất hiện tại Issus với một đội quân lớn ở phía sau quân của Alexander. Alexander đã dùng mưu dụ quân Ba Tư vào một chỗ chật hẹp – nơi quân số của họ không phát huy được hiệu quả và chỉ huy quân cận vệ của ông tiến công dồn dập hoàng đế Ba Tư. Darius bỏ chạy, bỏ cả vũ khí và gia đình ở lại.

Thay vì đuổi theo đám quân Ba Tư bại trận, Alexander đã hoàn thành việc chinh phục các thành bang ven biển và tiến đến Ai Cập, nơi ông được tung hô như một vị thần. Điều này thật ra không quan trọng với người Ai Cập vì tất cả các pharaông của họ đều là các vị thần. Nhưng với Alexander thì điều đó có vẻ như là một sự phát hiện. Ông khẳng định mình được Thượng đế lựa chọn để cai trị thế giới. Thầy của ông là Aristotle, đã dạy ông rằng có hai loại người: người Hi Lạp và người man rợ. Alexander không hiểu vì sao nếu ông cai trị cả người Hi Lạp và người man rợ thì nhóm người này lại tốt hơn nhóm khác. Ông khẳng định rằng tất cả mọi người đều là anh em và Thượng đế đã chọn ông để hòa giải sự khác biệt giữa họ. Ông đưa quân đến phương Đông là để hoàn thành sứ mệnh được giao.

Trong khi đó, Darius tuyển mộ một đội quân khác và hi vọng có thể chặn đứng Alexander nhờ dòng sông Tigris, ở phía bắc của thành Arbela. Trên đồng bằng mang tên Gau Gamela hay còn gọi là đồng cỏ lạc đà, Darius kéo quân đến và san phẳng cánh đồng này.

Trận đánh Arbela: Chất lượng chống lại số lượng

Quân đội Ba Tư đối đầu với binh sĩ của Alexander Đại Đế.
Quân đội Ba Tư đối đầu với binh sĩ của Alexander Đại Đế. (Ảnh: baomoi.com)

Alexander cuối cùng đã di chuyển quân đến đối diện với quân Ba Tư. Ông cho xây dựng trại vững chắc và chờ đợi thêm. Parmenio – tướng chỉ huy thứ hai của ông, đề nghị tiến công đội quân khổng lồ của Ba Tư vào ban đêm. Alexander nói: “Ta sẽ không đánh cắp để có được chiến thắng”. Alexander không chỉ có phong cách hiệp sĩ mà ông luôn luôn dựa vào thời gian và hành động chính xác. Điều đó không thể thực hiện vào ban đêm. Vì vậy, người Macedonia đã ngủ say trong trại của họ trong khi người Ba Tư lại chờ đợi một cuộc tiến công ban đêm – tất cả đều thức mặc áo giáp và cầm vũ khí.

Vào lúc mặt trời mọc, Alexander dẫn quân đến cánh đồng đã bị san bằng. Sau đó, ông làm điều mà trước đó người Ba Tư chưa bao giờ thấy: ông di chuyển quân đi theo đường xiên về bên phải. Nó là một phiên bản trên quy mô lớn của “hành quân, xiên về bên phải”, bước quen thuộc với bất kì người lính kì cựu nào của quân đội Mỹ sau này khi “tập luyện chiến đấu trên bộ”. Cánh phải đội quân của Alexander sẽ giao đấu với quân Ba Tư đầu tiên. Vua Macedonia ở vị trí cánh phải, đích thân dẫn đầu quân cận vệ và Sarissophoroi. Một màn chắn của bộ binh hạng nhẹ yểm trợ cho đoàn quân tiến lên. Để đánh bại mọi cuộc tiến công bên sườn của đội quân Ba Tư hùng hậu, Alexander bố trí một số nhóm bộ binh và kỵ kinh ở sau mỗi cánh. Họ có thể di chuyển về bên phải, bên trái hoặc ra phía sau khi cần thiết.

Darius nhận thấy rằng quân Hi Lạp trong khi tiến lên luôn di chuyển cách xa cánh đồng mà ông đã chuẩn bị sẵn. Việc di chuyển này làm xe ngựa của ông mất tác dụng, vì vậy Darius đã cử kỵ kinh được trang bị vũ khí hạng nặng tiến công phía bên phải của quân Hi Lạp để ngăn họ di chuyển. Quân Hi Lạp bị đẩy lùi nhưng Alexander lại tiến công kỵ kinh Ba Tư bằng kỵ kinh hạng nặng của mình. Trong khi đó, Darius sử dụng những cỗ xe ngựa của ông ta.

Những cỗ xe ngựa là vũ khí quan trọng từ một ngàn năm trước đó. Nó là một cái bục di động với một người đánh xe và một hoặc hai cung thủ. Tất cả những người lính khác chỉ có thể di chuyển bình thường, vì vậy những người đánh xe ngựa có thể dễ dàng tập trung áp đảo sức mạnh vũ trang của kẻ thù bất cứ khi nào cần thiết. Sau đó, những người lính biết cưỡi ngựa và kỵ kinh sẽ thay thế xe ngựa như là một vũ khí linh hoạt. Đôi khi kỵ kinh có thể được sử dụng như một vũ khí tiến công mạnh mẽ và bất ngờ, nhưng chỉ những người lính giỏi cưỡi ngựa với những con ngựa được huấn luyện tốt mới có thể vừa cưỡi ngựa vừa tiến công vào một hàng giáo vững chắc. Một người đánh xe ngựa, đứng sau hai con ngựa thì không bao giờ làm được như vậy. Những chiếc xe ngựa gắn lưỡi hái trên bánh xe của Darius chỉ có thể thắng khi quân Hi Lạp hoảng sợ. Nhưng quân Hi Lạp không hề run sợ. Các cung thủ và lính ném lao của Hi Lạp đã bắn hạ cả người đánh xe và ngựa. Những con ngựa hoảng sợ chạy ra xung quanh những tiểu đoàn lính trong đội hình phalanx và bị những người giữ ngựa Macedonia bắt lại. Những người đánh xe ngựa được huấn luyện kĩ càng của Ba Tư chứng minh lí do tại sao xe ngựa đã trở nên lỗi thời sau hàng thế kỷ.

Không rõ những con voi chiến của quân đội Ba Tư đã làm gì. Nhưng dù làm gì thì chúng cũng không có tác dụng với đội quân của Alexander. Có vẻ như chúng phải chịu chung số phận với những chiếc xe ngựa.

Trong khi chiến đấu với kỵ kinh Ba Tư, Alexander đã cử một toán kỵ kinh tiến công vào bên sườn cánh quân Ba Tư. Quân Ba Tư bị đe dọa từ phía bên sườn, đã bỏ chạy tán loạn. Trong khi đó, kị  binh Ba Tư tiến công để hở ra một khoảng trống phía trước. Alexander liền tách khỏi quân cận vệ, dẫn những người lính trong đội hình phalanx và 4 tiểu đoàn trong đội hình phalanx tiến công thẳng vào vị trí của Darius. Vị hoàng đế Ba Tư bỏ lại mọi thứ và phi nước đại chạy bán sống bán chết. Hầu hết quân Ba Tư chạy theo ông. Tuy nhiên, cánh phải của quân Ba Tư đã xuyên thủng cánh trái của quân Hi Lạp và tiến công vào trại. Họ đã cố gắng giải thoát cho gia đình Darius bị bỏ lại sau trận Issus. Alexander đổi hướng và tấn công phía sau. Quân Ba Tư bị dồn vào đường cùng. Người Macedonia đuổi theo tàn quân  Ba Tư tới 56km, tàn sát hàng nghìn người.

Hình ảnh Alexander Đại Đế đem quân tấn công đối mặt với vua Ba Tư trong Trận đánh Arbela, năm 331 tr.CN
Hình ảnh Alexander Đại Đế đem quân tấn công đối mặt với vua Ba Tư Darius (Ảnh:baomoi.com)

Thành quả của chiến thắng

Alexander tiến đến Babylon và tuyên bố mình là Đại đế mới của Ba Tư. Tại Babylon ông biết tin người Sparta tiến công quân đội của ông vì vậy ông trở về Hi Lạp và biến thành bang Sparta trở thành một phần trong đế chế của ông. Sau đó, ông tiếp tục chiến dịch xâm chiếm các bộ lạc và thành bang xuyên suốt từ Iran và Thổ Nhĩ Kỳ đến nơi ngày nay là Afghanistan, Pakistan và Ấn Độ. Tuy nhiên, ông không quên quan điểm của mình về tình anh em giữa những con người. Ông đã thể hiện điều đó tại Babylon với việc tổ chức một cuộc hôn nhân lớn giữa 7000 quân lính của mình với các phụ nữ Ba Tư theo nghi lễ của người Ba Tư. Alexander làm theo phương pháp quản lí nhà nước của Ba Tư và dùng các quan chức người Ba Tư.

Trước Alexander, Ba Tư dường như đã gần đạt tới mục tiêu về ngoại giao và tiền tệ, nhưng họ lại thất bại với mục tiêu về sức mạnh quân sự. Đại đế khuyến khích các cuộc nội chiến liên tiếp của Hi Lạp. Sau chiến tranh Peloponnesian, thành bang Sparta đã nắm quyền chỉ huy ở Hi Lạp. Tuy nhiên Sparta mất quyền lãnh đạo trên quần đảo Aegean trong trận chiến Cnidus. Hạm đội chiến thắng là Hi Lạp, nhưng Đại đế đã trả tiền cho điều đó. Sau đó, vào năm 384 trước Công nguyên, Đại đế dàn xếp hòa giải xung đột giữa các thành bang Hi Lạp. Trong thời kì “hòa bình của Đại đế”, Ba Tư lại giành được chủ quyền trên vùng Ionian Hi Lạp ở Tiểu Á. Cả Athens, Sparta, Thebes, Corinth đã khống chế các thành bang Hi Lạp khác. Tất cả đều sử dụng tiền Ba Tư cho việc buôn bán, trong thời gian dài việc này chỉ đem lại lợi ích cho Ba Tư. Đế chế Ba Tư như một lỗ đen vĩ đại hút các tiểu bang Hy Lạp vào trong  nó bằng lực hấp dẫn kinh tế.

Alexander đã làm thay đổi điều đó. Rõ ràng ông không bảo vệ nền dân chủ khỏi bị hủy diệt trong tay người Ba Tư. Gần như ông khiến nó không còn tồn tại ở Hi Lạp. Tuy nhiên quan điểm này đã vượt qua biển Adriatic đến Italy, nơi nền Cộng hòa La Mã ngày càng lớn mạnh hơn. Dần dần, quan điểm dân tộc tự trị đã lan rộng khắp thế giới. Đôi khi, nó mất đi ở nơi này nhưng lại xuất hiện ở những nơi khác. Điều Alexander làm đã chuyển đổi sức mạnh kinh tế cũng như quân sự từ châu Á sang châu Âu. Quan điểm về quyền và trách nhiệm của công dân không mất đi dưới thời Alexander cũng như những người kế tục sự nghiệp của ông. Vì cuộc chinh phục của Alexander, người châu Âu không bao giờ trở thành nô lệ của một vị vua thần thánh như Ba Tư hay Ai Cập.

Alexander đã đưa quan điểm của ông đến cả châu Âu và châu Á. Quan điểm về tình anh em giữa con người còn phát triển mạnh mẽ hơn cả quan điểm về nền dân chủ, tuy nhiên chúng ta đã cách xa thời đại của vị Đại đế này.

Theo: William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

Xem thêm: