Trận chiến trên Đại Tây Dương, năm 1939 – 1945: Những con sói biển

0
120

Trận chiến trên Đại Tây Dương, năm 1939 – 1945 giữa lực lượng hải quân và tàu của quân Đồng Minh với tàu ngầm của Đức trong chiến tranh thế giới lần II đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại của vương quốc Anh và nỗ lực tiếp tục cuộc chiến tranh của quân Đồng Minh. Qua đó ảnh hưởng đến cục diện chiến tranh thế giới II.

Hoàn cảnh

Winston Churchill hồi tưởng lại sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc: “Trong cuộc chiến này, điều duy nhất làm tôi sợ hãi là sự nguy hiểm của tàu ngầm Đức. Nó không có hình thức của những cuộc chiến rực rỡ và huy chương lấp lánh, nó được thể hiện qua những số liệu thống kê, những biểu đồ và những đường cong không được quốc gia biết đến, còn công chúng thì thấy khó hiểu”.

Cuộc chiến này được biết đến là trận chiến trên Đại Tây Dương, mặc dù phần lớn chi tiết về nó công chúng không biết, nhưng nó không phải là một trận đánh nhỏ, không gay cấn. Nó liên quan đến nhiều mũi tiến công và phản công, nó cũng mang nhiều tính sáng tạo kĩ thuật như bất cứ chiến dịch nào trên đất liền hoặc trên không. Không có cuộc chiến nào đòi hỏi nhiều sự can đảm ở mỗi bên và cũng không có cuộc chiến nào đòi hỏi sự đặt cược cao như vậy. Vương quốc Anh, một hòn đảo đông dân cư, phải nhập khẩu một nửa lương thực và tất cả dầu. Nếu nước Anh bị tách khỏi phần còn lại của thế giới thì máy bay của đất nước này không thể cất cánh, những con tàu của nó không thể ra khơi và người dân Anh sẽ chết đói.

Đức có lực lượng hải quân tương đối nhỏ và Adolf Hitler miễn cưỡng mạo hiểm với những con tàu trên mặt biển của ông ta để sử dụng chúng như kẻ cướp thương mại. Vài vụ tiến công như vậy thường kết thúc với thảm họa, như việc đắm tàu Graf SpecBismark. Người Đức cũng có một số thuyền máy tuần tra hoạt động trong phạm vi gần (thuyền E) có thể gây hại cho thương thuyền chủ yếu bằng cách đặt thủy lôi, xung quanh quần đảo Anh. Máy bay Đức, như chúng ta biết, đã tiến công thương thuyền trong hải phận Anh, nhưng những máy bay này cũng có tầm ngắn. Gần như tất cả kết quả mà Đức đạt được đều nhờ vào tàu ngầm.

Trong hai cuộc Chiến tranh thế giới, Mỹ đã liên kết tàu ngầm với Đức. Tuy nhiên, khi bắt đầu cuộc chiến tranh này, thật sự vào cuối năm 1941, Đức có ít tàu ngầm hơn so với Mỹ. Vào tháng 9 năm 1939, khi cuộc chiến bắt đầu, Đô đốc Karl Donitz là người đứng đầu sư đoàn tàu ngầm của Hải quân Đức – có 57 chiếc tàu ngầm, trong đó 30 chiếc chỉ sử dụng được ở hải phận ven biển. Donitz nói ông sẽ cần 300 tàu ngầm ra khơi để có thể phong tỏa hoàn toàn nước Anh, nhưng Hitler không nghĩ việc phong tỏa này là cần thiết. Những phương tiện chiến tranh khác được ưu tiên hơn. Donitz không có những con tàu ông ta muốn.

Karl Dönitz,
Karl Dönitz, ảnh chụp năm 1943. Ảnh: wikipedia

Còn một số yếu tố khác khiến cho tàu ngầm chưa thực sự trở thành một mối đe dọa nghiêm trọng, cho tới khi Pháp thất bại và Đức thua trong trận chiến nước Anh (xem Trận chiến của vương quốc Anh). Một yếu tố nữa là nước Anh có thể chặn gần như hoàn toàn lối vào eo biển Manche[1]. Bất cứ tàu ngầm nào muốn tới Đại Tây Dương sẽ phải đi về hướng bắc vòng quanh mũi đất Scotland. Trong số tàu ngầm của Donitz chỉ có 8 chiếc có tầm hoạt động 12 000 hải lí, khiến chúng có thể thực sự đến đại dương; còn 18 chiếc tàu ngầm khác chỉ có thể đi xa đến Gibraltar và quay trở về; số còn lại không thể rời khỏi Biển Bắc.

Một vấn đề khác nảy sinh từ chính tàu ngầm của họ. Những tàu ngầm của năm 1941 và thực tế tất cả những tàu ngầm trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai khác xa so với những tàu ngầm hiện đại của thế kỷ XX. Những chiếc tàu ngầm hạt nhân hiện đại được thiết kế để hầu hết thời gian chúng ở dưới nước và hiệu quả nhất khi chúng lặn xuống. Còn tàu ngầm trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai là một tàu lớn nổi trên mặt biển, thỉnh thoảng mới có thể lặn xuống. Nó sử dụng động cơ diesel khi ở trên mặt biển và chạy nhanh hơn so với tàu vận tải trung bình, mặc dù khá chậm so với tàu hải quân. Khi lặn xuống, nó sử dụng động cơ điện chạy bằng ắc quy, thường xuyên phải nạp lại. Khi đi ngầm dưới nước nó chạy rất chậm – không thể theo kịp với một tàu vận tải chạy nhanh.

Thất bại của Pháp đã giải quyết một vấn đề: người Đức tiếp quản những cảng trên vịnh Biscay[2] của Pháp và vịnh Biscay không thể chặn lại như eo biển Manche. Ngay khi những người Đức chuyển đến, Hitler ra lệnh đóng những tàu ngầm chống bom dùng để phong tỏa bờ biển Pháp. Những người thợ đóng tàu Đức làm việc một cách hăng hái để cải thiện chất lượng và tăng số lượng tàu ngầm. Trước khi cuộc chiến tranh này kết thúc, các tàu ngầm Đức hoạt động ở khắp mọi nơi trên thế giới, và các xưởng đóng tàu Đức đã sản xuất hàng loạt những con tàu với một tỉ lệ đáng kinh ngạc.

Mặt khác, những phương pháp phát hiện ra tàu ngầm trong năm 1941, không tiên tiến hơn so với năm 1918. Phương pháp đáng tin cậy nhất là quan sát. Các thiết bị nghe cũng có thể phát hiện ra những tàu ngầm lặn dưới biển. Đôi khi có thể nghe được tiếng động cơ hoặc chân vịt của tàu ngầm. Những người săn tìm tàu ngầm có thể phát sóng âm và thu tiếng vọng để phát hiện những âm thanh dội trở lại từ một tàu ngầm, hệ thống này người Mỹ gọi là sonar (hệ thống định vị bằng sóng âm), người Anh gọi là asdic (thiết bị phát hiện tàu ngầm). Vấn đề là để định vị bằng sóng âm phải có một người chuyên nghiệp. Chỉ một chuyên gia mới có thể nói được sự khác biệt giữa tiếng vọng từ một tàu ngầm và tiếng vọng từ cá voi hoặc một bãi đá ngầm san hô. Và dù thế nào thì những thiết bị nghe chỉ hoạt động trong tầm ngắn, khoảng 914 mét.

Cuộc tiến công của tàu ngầm

Tàu ngầm Đức U-52
Tàu ngầm Đức U-52. Ảnh: Wikipedia

Bất chấp những nhược điểm, tàu ngầm Đức đã khai chiến thành công. Vài giờ sau khi bắt đầu cuộc chiến, một tàu ngầm đã đánh chìm một tàu chở hành khách mang tên Athena, làm 112 người thiệt mạng. Hai tuần sau, tàu ngầm U 29 đã đánh chìm tàu sân bay H.M.S. Courageous ở nơi được xem là “hải phận” của nước Anh. Sau đó, một tàu ngầm đã đi thẳng vào chỗ đậu tàu của hải quân Hoàng gia Anh ở Scapa Flow và đánh đắm tàu chuyên chở H.M.S. Royal Oak vào tháng 10 năm 1939. Mặc dù chỉ hoạt động ở hải phận gần nước Anh trong năm 1939 và đầu năm 1940, nhưng những tàu ngầm này đã nhấn chìm nhiều tàu hơn cả số tàu người Anh có thể đóng để thay thế. Tình hình ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Sau thất bại của Pháp, những tàu ngầm Đức ngày càng tiến công dữ dội ở Đại Tây Dương phía tây Ireland và di chuyển về phía nam đánh chìm những con tàu ở vịnh Biscay, ở ngoài bờ biển phía tây của Tây Ban Nha và bên ngoài Tây Phi. Tàu chở hàng tới Địa Trung Hải và châu Phi chịu tổn thất nặng nề. Chịu tổn thất đặc biệt nghiêm trọng là tàu chở dầu của Nigeria. Vào tháng 4 năm 1941, Đức đã đánh chìm tổng cộng tới 700 000 tấn tàu buôn (tàu chuyên chở trung bình nặng khoảng 5000 tấn), gấp hơn hai lần năng lực đóng tàu của Anh. Theo A.J.P. Taylor: “Thời điểm này là lúc vương quốc Anh suýt thua trong cuộc chiến”.

Những đoàn tàu hộ tống

Sau tổn thất nặng nề ban đầu, người Anh phát hiện thấy hệ thống đoàn tàu hộ tống đã được sử dụng thành công trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Các tàu buôn đi theo nhóm, được hộ tống bởi những tàu hải quân hạng nhẹ. Các thuyền trưởng tàu buôn không thích đi thành bầy như gia súc, nhưng họ hiểu rõ lợi ích của việc này.

Đoàn tàu hộ tống và máy bay chống tàu ngầm
Đoàn tàu hộ tống và máy bay chống tàu ngầm, tháng 11 năm 1941. Ảnh: Wikipedia

Khả năng tàu khu trục và tàu hộ tống nhỏ đánh chìm tàu ngầm không phải là điều khiến những đoàn tàu hộ tống trở nên có hiệu quả. Trong thời kì đầu, có thể 2 hoặc 3 tàu hải quân hộ tống 40 tàu chuyên chở và những tàu hộ tống cần phải đi cách xa nhau. Các đoàn tàu hộ tống khiến những con tàu có ít nguy cơ bị chặn bởi tàu ngầm. Bởi vì, tàu ngầm chạy rất chậm dưới nước, tàu ngầm phải xác định vị trí dọc theo đường biển và chờ mục tiêu xuất hiện. Khi những con tàu đi riêng lẻ dàn trải dọc theo một tuyến đường, nếu tàu ngầm trượt một mục tiêu, một mục tiêu khác sẽ sớm xuất hiện. Tuy nhiên, khi những con tàu đi thành nhóm trong đoàn tàu hộ tống, nếu tàu ngầm Đức không đánh trúng đoàn tàu thì nó sẽ phải chờ rất lâu cho đến khi mục tiêu thứ hai xuất hiện. Tàu ngầm Đức không thể đuổi theo đoàn tàu hộ tống, bởi vì đoàn tàu này chạy nhanh hơn tàu ngầm đang lặn. Tàu ngầm cũng không thể nổi lên để đuổi theo, bởi vì tàu hộ tống của hải quân có hỏa lực mạnh hơn nó. Hai phần ba số tàu bị đánh chìm trong năm 1941 là những con tàu không đi trong đoàn tàu hộ tống.

Tin tức qua radio đóng vai trò lớn trong cuộc chiến với những đoàn tàu hộ tống. Những đoàn tàu hộ tống thường xuyên thay đổi tuyến đường để những tàu ngầm phục kích nhầm địa điểm. Vì vậy, tình báo Đức hăng hái giám sát việc truyền tín hiệu của Anh để tìm ra vị trí và hướng đi của những đoàn tàu hộ tống. Cùng lúc đó, tình báo Anh cũng lắng nghe những tín hiệu được truyền đi của Đức để biết những tàu ngầm đang ở đâu. Tất cả điều này liên quan đến nỗ lực điên cuồng để giải mã những tín hiệu của kẻ thù.

Những đoàn tàu hộ tống không hoàn toàn giúp tránh được tổn thất. Một đoàn tàu dàn trải trong cả một khu vực rộng và tàu hộ tống của hải quân hiếm khi ở gần để kịp phản ứng ngay lập tức với cuộc tiến công của tàu ngầm Đức. Hơn nữa, tàu ngầm trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai mạnh hơn nhiều so với tàu ngầm trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Một tàu ngầm đang lặn thì thủy lôi phải nổ rất gần mới có tác dụng, còn khi tàu ngầm nổi trên mặt nước, chúng hiếm khi bị vô hiệu hóa bởi một quả đạn cối duy nhất giống như trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Hơn nữa, tàu ngầm đã áp dụng một chiến thuật mới: Thay vì tiến công những con tàu bằng ngư lôi khi đang lặn, tàu ngầm sẽ nổi lên vào ban đêm để tiến công. Vào ban đêm, tàu ngầm không thể bị trông thấy giống như khi chúng ở dưới nước và chúng có thể đi xa hơn và nhanh hơn. Hệ thống rada trên tàu có thể phát hiện ra tàu ngầm, nhưng hệ thống rada được sử dụng ở thời kì đầu cuộc chiến tranh này quá thô sơ để có thể cảnh báo trước hoặc đưa ra phạm vi chính xác.

Chiến lược “Bầy sói”

Một bầy sói u-boat Đức
Một bầy sói u-boat Đức dàn ngang để đón tàu của lực lượng Đồng minh. Ảnh: Wikipedia

Tốc độ của tàu ngầm đi trên mặt biển là yếu tố quan trọng với chiến lược của Donitz để phản công những đoàn tàu hộ tống. Trước chiến tranh, ông đã tiến hành thử nghiệm với những tàu phóng ngư lôi trên mặt biển để đưa ra chiến lược “Bầy sói”. Bầy sói bao gồm các nhóm tàu ngầm được phân tán rộng dọc theo những tuyến đường hàng hải. Khi một tàu ngầm thấy một đoàn tàu hộ tống, thay vì tiến công ngay lập tức, nó sẽ giữ khoảng cách và báo tin qua radio cho các thành viên khác trong bầy. Sau đó, tất cả tàu ngầm sẽ cùng tập trung về chỗ đoàn tàu hộ tống. Chiến lược Bầy sói khiến các đoàn tàu hộ tống khó tránh được tàu ngầm, và khi bị tàu ngầm phát hiện thì chắc chắn sẽ xảy ra một cuộc tiến công ồ ạt. Trong năm 1940 và 1941, chiến lược “Bầy sói” đã khiến số tàu bị đánh chìm tăng nhanh. Trong hai năm này, tốc độ người Đức đã đánh chìm những con tàu nhanh hơn – thậm chí nhanh hơn gấp 3 lần – tốc độ người Anh có thể đóng chúng. Trong khi đó, Anh đánh chìm tàu ngầm Đức lại không nhanh bằng các xưởng đóng tàu Đức có thể hạ thủy tàu mới. Trong năm 1941, người Đức đã đóng được 200 tàu ngầm mới, họ chỉ mất 50 tàu ngầm kể từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh. Vào tháng 7 năm 1942, cuối cùng Donitz đã có 300 tàu ngầm hoạt động.

Tuy nhiên vào lúc đó, cuộc chiến trên Đại Tây Dương đã thay đổi hoàn toàn.

 Sự tham gia của Mỹ

Giữa năm 1941, Mỹ bắt đầu thực hiện vai trò của mình. Mỹ bắt đầu với việc giúp cơ quan tình báo Anh thu thập thông tin về hoạt động của tàu ngầm. Sau đó, Tổng thống Franklin D. Roosevelt tuyên bố một “khu vực phòng thủ” bao trùm hầu hết phía tây bắc Đại Tây Dương và ra lệnh cho đơn vị hải quân Mỹ tuần tra khu vực này. Lúc đầu, các đội tuần tra Mỹ chỉ báo cáo việc quan sát thấy tàu ngầm cho người Anh. Đến tháng 9, họ đã đánh chìm những tàu ngầm. Thực tế, ở Đại Tây Dương dù không chính thức công khai, nhưng Mỹ đã tham chiến.

Thậm chí trước đó, Mỹ đã bắt đầu chương trình “cho thuê mượn vũ khí”, chế tạo vũ khí chiến tranh cho Anh mà không phải trả tiền ngay. Thỏa thuận cho thuê mượn vũ khí lớn nhất được công khai là cung cấp 50 tàu khu trục cũ (chỉ có 9 tàu trong số đó có đủ khả năng đưa vào hoạt động ngay lập tức). Hiệu quả hơn rất nhiều so với tàu khu trục là những máy bay ném bom B24 và thủy phi cơ PBY cũng được cung cấp. Những máy bay tầm xa này khiến việc tuần tra trên không trung của Anh được mở rộng hơn. Cùng lúc đó, các xưởng đóng tàu của Mỹ đã hoạt động trở lại sau khi sự suy thoái khiến các xưởng này phải ngừng hoạt động. Số tàu ngầm bị đắm giảm mạnh vào tháng 7 năm 1941, trong khi số tàu vận tải được hạ thủy lại tăng lên. Năm 1942, quân Đồng Minh đã hạ thủy số tàu nhiều gấp ba lần so với năm 1941. Hơn nữa, hầu hết những con tàu mới này chạy nhanh hơn nhiều so với những tàu vận tải cũ – chúng cũng chạy nhanh ngang với những tàu ngầm đi nổi trên mặt biển. Điều này sẽ gây ra rắc rối cho các “Bầy sói”  trong tương lai.

Mặc dù vậy, đối với Hitler, Đại Tây Dương chỉ có tầm quan trọng thứ yếu. Mối quan tâm lớn của ông ta là xâm chiếm Liên Xô. Đó chính là một lí do ông ta không cho tàu ngầm tiến công dữ dội hơn ở phía tây Đại Tây Dương. Một lí do khác là ông ta muốn trì hoãn việc tham chiến chính thức của Mỹ. Mỹ là nước đông dân gần bằng Liên Xô và thậm chí công nghiệp còn phát triển hơn Đức. Hitler hi vọng đánh bại Liên Xô trước khi Mỹ chính thức ảnh hưởng đến cuộc chiến tranh.

Khi Nhật Bản tiến công Trân Châu Cảng, dù sẵn sàng hay chưa Hitler cũng bị bắt buộc bởi hiệp ước phải tuyên bố chiến tranh với Mỹ. Những tàu ngầm Đức ngay lập tức gây chiến trên vùng bờ biển phía đông của Mỹ. Hải quân Mỹ không được chuẩn bị trước cho một cuộc tiến công của tàu ngầm. Họ không có hệ thống đoàn tàu hộ tống cho thương thuyền ven biển và họ cũng có ít tàu hộ tống hạng nhẹ. Trong năm 1942, số tàu bị đánh đắm tăng vọt. Những thủy thủ tàu ngầm Đức nói đến giai đoạn này như là “thời gian hạnh phúc”. Tuy nhiên, nó không phải là “thời gian hạnh phúc” cho những nạn nhân của họ. Trong một số trường hợp, những người Đức cho những người sống sót trong cuộc tiến công của họ thức ăn và nước uống, bảo những người này “gửi hóa đơn cho Roosevelt”. Tuy nhiên, ở những thời điểm khác, họ lại bắn súng vào các thủy thủ trên mặt nước. Số tàu bị người Đức đánh chìm trong tháng 1 tăng gấp ba lần so với tháng trước. Trong tháng 4 và tháng 5, số tàu bị đánh chìm đã tăng gấp đôi so với tháng 1. Lần đầu tiên trong gần một năm, số tàu bị chìm đã nhiều hơn số tàu đang được đóng thay thế.

Tuy nhiên, tình hình đó không kéo dài. Năm sau, số tàu chuyên chở được hạ thủy đã tăng gấp đôi so với năm 1942. Các nhà chức trách Mỹ tìm cách khiến những thành phố ven biển tắt đèn, mặc dù có nhiều người phản đối rằng nó sẽ làm hỏng mùa du lịch. Việc sản xuất tàu hải quân hạng nhẹ tăng vọt, những đoàn tàu hộ tống được tổ chức và người Mỹ đã đưa ra một loại tàu chiến mới – tàu sân bay hộ tống. Những tàu sân bay nhỏ này, chở số máy bay trên boong ít hơn một nửa so với tàu sân bay thông thường, chúng được giám sát liên tục từ trên không trung. Một tàu ngầm lặn xuống thì từ một con tàu khác sẽ không trông thấy, nhưng trừ khi tàu ngầm ở dưới độ sâu tiềm vọng, còn nếu không thì một quan trắc viên quan sát trực tiếp từ phía trên nó có thể thấy hình dáng của nó. Tất nhiên, khi tàu ngầm nổi trên mặt biển thì từ một máy bay có thể trông thấy nó ở khoảng cách hàng ki lô mét. Những chiếc tàu ngầm buộc phải dành hầu hết thời gian lặn dưới biển, hoạt động với tốc độ chậm như sên. Nhiều máy bay tuần tra từ căn cứ ở đất liền chịu trách nhiệm chống tàu ngầm và có một loại khí cụ bay mới – những khinh khí cầu – tham gia cùng họ. Những quả khí cầu được gắn động cơ lớn có tốc độ nhanh hơn bất cứ loại tàu nào trên mặt biển và khi cần thiết chúng có thể bay lơ lửng tại một chỗ.

Một tàu ngầm của Đức bị nổ tung.
Một tàu ngầm của Đức bị nổ tung. Ảnh: Baomoi.com

Số tàu ngầm bị đánh chìm tăng nhanh. Đến lúc này, quân Đồng Minh phá hủy tàu ngầm của Đức nhanh ngang với việc Đức có thể hạ thủy tàu ngầm mới. Quãng thời gian sống trung bình của một tàu ngầm Đức ngày càng ngắn hơn cho đến khi nó chỉ còn khoảng ba tháng. Tuy nhiên, những “Bầy sói” không dễ dàng bị đánh bại. Donitz đã đưa ra những tàu ngầm tiếp dầu có thể tiếp nhiên liệu cho những tàu ngầm Đức ở ngoài khơi. Những tàu ngầm Đức đi khỏi bờ biển phía Đông của Mỹ và bắt đầu săn tìm những con tàu ở ngoài bờ biển Nam Mỹ và châu Phi. Vào tháng 3 năm 1943, số tàu bị đánh chìm nhiều gần bằng năm 1942. Từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 3, một đoàn hộ tống mang tên SC-121 trên đường đi từ Canada tới Anh đã bị “Bầy sói” tiến công ba lần và 6 trong số 56 con tàu của đoàn đã bị đánh chìm. Ngay sau đó, đoàn tàu hộ tống SC-122 cũng bị tiến công bởi “Bầy sói” này và mất 9 con tàu. Từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 3, đoàn tàu hộ tống HX 229 đã mất 11 con tàu với “Bầy sói” trong một cuộc chiến chạy đua qua Đại Tây Dương. Vào thời điểm này, có ít tàu đi riêng lẻ. Hầu hết những con tàu bị đắm là đi trong những đoàn tàu hộ tống. Trong suốt tháng 5, số tàu bị đánh đắm vẫn rất nhiều. Mặc dù vậy, chiến tranh tàu ngầm của Đức đã đi tới một bước ngoặt. Từ ngày 28 tháng 4 tới ngày 6 tháng 5, đoàn tàu hộ tống ONS-5 với 42 con tàu đã bị tiến công bởi khoảng 51 tàu ngầm Đức. Kết quả 13 tàu buôn trong đoàn bị đánh chìm, nhưng 5 tàu ngầm của Đức cũng bị tàu hộ tống và 2 thủy phi cơ PBY (được người Anh gọi là Catalinas) đánh chìm. Sự thay đổi càng trở nên rõ ràng hơn vào tháng 6, khi số tàu bị đánh chìm giảm một cách đột ngột. Sau này, một tác giả Đức đã gọi năm 1943 là “Năm tiêu diệt tàu ngầm Đức”.

“Năm tiêu diệt tàu ngầm Đức”

Có một vài lí do để nói như vậy. Nước Bồ Đào Nha trung lập nhận thấy Hitler không thể nào thắng trong cuộc chiến tranh, vì vậy họ biến Azores thành một căn cứ không quân của quân Đồng Minh. Những hải quân và những đội tuần tra trên không tiếp tục được tăng thêm. Nhờ phương tiện sản xuất của Mỹ, hiện giờ quân Đồng Minh đã có đủ tàu sân bay hộ tống, tàu khu trục, tàu hộ tống tàu khu trục, ca nô của Đội Bảo vệ Bờ biển và tàu chiến hoạt động như lực lượng đặc nhiệm – độc lập với những đoàn tàu hộ tống – để săn tìm những kẻ giết người. Những thiết bị chống tàu ngầm cũ, thiết bị phát hiện tàu ngầm và hệ thống rada ở trên tàu, đã được cải tiến. Trong năm 1942, những người giải mã của Đức có lợi thế so với quân Đồng Minh: Họ có thể định vị những đoàn tàu hộ tống trong khi quân Đồng Minh mù mờ về các thông điệp được gửi đến tàu ngầm. Đến lúc này, quân Đồng Minh đã có thể giải mã các tín hiệu truyền đến và đi từ tàu ngầm, trong khi người Đức lại không biết hoạt động của các đoàn tàu hộ tống. Quân Đồng Minh có thể đưa các đoàn tàu hộ tống đi theo tuyến đường vòng quanh những “Bầy sói”. Hơn nữa, quân Đồng Minh đã đưa ra hai loại vũ khí điện tử mới. Một là máy tìm hướng độ trung thực cao, mang tên Huff-Duff – đặt theo tên nhà phát minh người Anh – có thể xác định vị trí các tàu ngầm từ tín hiệu radio. Hai là rada hàng không có thể tìm ra một tàu ngầm trong màn đêm đen tối mà không bị máy dò rada của tàu ngầm Đức phát hiện. Được bổ sung một đèn pha trên không mới – đèn Leigh, rada trên không khiến những chuyến đi ban đêm thông thường từ vịnh Biscay trở nên cực kì nguy hiểm. Vào tháng 5 năm 1943, chỉ riêng trên vịnh Biscay đã có 38 tàu ngầm Đức bị đánh chìm và tính trên toàn thế giới đã có 43 tàu ngầm Đức bị đánh chìm. Số tàu bị đánh chìm này lớn hơn gấp đôi số tàu mà tất cả những xưởng đóng tàu ở Đức và vùng lãnh thổ Đức chiếm đóng có thể sản xuất ra. Donitz đã rút những tàu ngầm của mình ra khỏi Bắc Đại Tây Dương. Sau này, trong hồi kí của mình, Donitz đã viết: “Chúng tôi đã thua trong trận chiến ở Đại Tây Dương”.

Mặc dù vậy, chiến tranh tàu ngầm không kết thúc. Những tàu ngầm Đức được tiếp nhiên liệu bởi tàu ngầm tiếp dầu vẫn hoạt động ở những mặt trận xa như Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Sau đó, vào năm 1944, những tàu ngầm được trang bị ống thông hơi đầu tiên xuất hiện. Ống thông hơi là một thiết bị thông khí được nâng lên giống như một kính tiềm vọng. Nó cho phép tàu ngầm sử dụng động cơ diesel để lặn xuống. Các tàu ngầm Đức không bao giờ phải nổi trên mặt biển nữa. Tuy nhiên, chiến lược Bầy sói đã kết thúc. Huff-Duff khiến việc truyền tin bằng thiết bị radio trở nên quá nguy hiểm. Sau đó, quân Đồng Minh đổ bộ vào Pháp, và các cảng ở Đại Tây Dương đã mất.

Đánh giáp lá cà

Tóm tắt về cuộc chiến trên Đại Tây Dương có vẻ như tất cả đều về vấn đề công nghệ, sự tham gia của con người rất ít. Những thủy thủ tàu buôn và lính thủy trên tàu hộ tống hàng ngày đều căng thẳng vì lo lắng tàu bị đánh tan, chờ tiếng nổ của ngư lôi, nghe thông báo rằng con tàu của bạn đã bị tiến công, và bạn, nếu may mắn, sẽ ngay lập tức phải bơi trong làn nước lạnh giá của Bắc Đại Tây Dương. Những thủy thủ tàu ngầm sống với nỗi sợ hãi bị giam giữ ở nơi nguy hiểm nhất so với tất cả lực lượng chiến đấu trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Tỉ lệ thương vong của lực lượng tàu ngầm Đức là 75%, trong số đó 63% dẫn đến cái chết. Ba phần tư số lính thủy ra khơi trên tàu ngầm Đức đã bị giết hoặc bị bắt – hầu hết bọn họ bị giết. Chẳng có lực lượng vũ trang của bất cứ cường quốc nào tham chiến có tỉ lệ thương vong lớn như vậy.

Có thời gian cuộc chiến trên Đại Tây Dương giống như thời của John Paul Jones, hay thời của Don Juan Áo.

Tàu khu trục U.S.S Borie, một loại tàu cổ có 4 ống khói, là một thành phần yểm hộ cho tàu sân bay hộ tống U.S.S.Card. Vào ngày 4 tháng 10 năm 1943, nhóm tàu yểm hộ của tàu sân bay hộ tống Card đã đánh chìm 3 trong số 4 tàu ngầm Đức đang tiếp nhiên liệu ở Nam Đại Tây Dương. Chỉ huy lực lượng đặc nhiệm, thuyền trưởng Arnold J. Isbell đã cử chiếc Borie – do Đại úy Charles H. Hutchins chỉ huy – đuổi theo chiếc tàu ngầm thứ tư.

Vào ngày 1 tháng 11, tàu Borie phát hiện ra một tàu ngầm và đã thả thủy lôi. Chiếc tàu ngầm nổi lên mặt biển. Hutchins cho khai hỏa với pháo 100mm và súng liên thanh. Chiếc tàu ngầm bắn trả. Hutchins chỉ huy tàu Borie cố gắng lao vào nó. Chiếc tàu khu trục cũ lái về phía bên phải boong của tàu ngầm và đoàn thủy thủ Mỹ bắt đầu nổ súng với súng trường, súng tiểu liên và súng lục. Một lính thủy đã ném dao găm và tiến công một lính Đức đang cố gắng điều khiển súng trên boong của tàu ngầm. Trong trường hợp này, đâm vào tàu ngầm không phải là một ý hay. Lớp bọc sắt của tàu Borie chưa bao giờ đủ dày để đâm, qua nhiều năm nó đã bị gỉ mòn đi. Nước biển bắt đầu tràn vào bên cửa tàu. Sau 10 phút, chiếc tàu ngầm Đức tìm cách thoát khỏi tàu khu trục và bỏ chạy. Đi được khoảng 350m, nó vòng lại và cố gắng đâm Borie. Hutchins đổi hướng tàu và bắn thủy lôi độ sâu ở đuôi tàu vào đường đi của tàu ngầm. Ba quả thủy lôi nổ đã nâng chiếc tàu ngầm lên mặt biển và khiến nó dừng bất động chỉ cách tàu Borie có gần hai mét. Tàu ngầm Đức lùi lại và cố gắng chạy trốn. Borie đuổi theo, tiếp tục nhả đạn. Một quả đạn 100mm đã thổi bay thủy thủ trên đài chỉ huy Đức xuống biển. Sau đợt tiến công thứ hai, tàu ngầm Đức dừng lại và toàn bộ thủy thủ sống sót trên tàu đã đầu hàng.

William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

[1] Biển Manche là một đoạn biển dài thuộc Đại Tây Dương, xen giữa đảo Anh và bờ biển phía bắc của Pháp, liền với Bắc Hải. Biển này dài 562km, chỗ rộng nhất là 240km, chỗ hẹp nhất là 34km (eo biển Dover). Biển Manche là biển cạn nhỏ nhất chung quanh châu Âu, chiếm diện tích khoảng 75 000 km2.

[2] Vịnh Biscay hay còn gọi là biển Cantabria là một vịnh ở đông bắc Đại Tây Dương nằm phía nam của biển Celtic. Nó chạy dọc bờ biển phía tây của Pháp từ Brest dọc xuống phía nam tới biên giới Tây Ban Nha và từ bờ biển phía bắc của Tây Ban Nha cho tới Punta de Estaca de Bares, vịnh này được đặt theo tên tỉnh Biscay của Tây Ban Nha.

Xem thêm: Những trận đánh làm thay đổi lịch sử thế giới

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây