Trận chiến đồi Bunker, năm 1775 và nền độc lập nước Mỹ

0
706

Trận chiến đồi Bunker, năm 1775 diễn ra giữa Người Mỹ (William Prescott) với Người Anh (William Howe). Trận đánh đã cho thấy người Mỹ có thể đánh bại quân đội Anh thiện chiến nhất thế giới lúc bấy giờ trong cuộc chiến giành độc lập.

Hoàn cảnh trước trận Đồi Bunker

Khi mặt trời mọc trên cảng Boston, một sĩ quan trên tàu HMS Lively thấy có điều khác lạ trên ngọn đồi đằng sau Charlestown. Anh ta hướng kính viễn vọng về phía ấy và thấy những kẻ phiến loạn đang xây dựng một pháo đài, thậm chí pháo đài gần như đã xây xong. Viên sĩ quan ngay lập tức thông báo với chỉ huy của anh ta. Vị chỉ huy đã cho nổ súng vào vị trí quân phiến loạn. Tuy nhiên vài phút sau, tàu HMS Lively nhận được lệnh ngừng bắn của Đô đốc Samuel Graves.

Trong sở chỉ huy ở Boston, Đại úy Gen. Thomas Gage cũng đã biết tin về pháo đài. Thật không thể chịu nổi việc này. Gage đã dành gần cả cuộc đời ở Bắc Mỹ để chiến đấu vì nhà vua. Ông đã cưới một người phụ nữ New Jersey và dự định nghỉ hưu trong một trang trại mà ông đã mua ở New York. Những người nông dân khố rách áo ôm do một nhân vật cấp tiến đang cố đẩy đất nước của ông vào tình trạng hỗn loạn. Gage đã yêu cầu quân tiếp viện để giúp ông giải quyết tình hình. Và ông đã có thêm 3000 lính đưa lực lượng quân đội Anh ở Boston lên con số 5000 người. London cho rằng con số này là đủ để xử lí những kẻ chống đối trong một thị trấn chỉ có 20 000 người, nhưng Gage lại không nghĩ như vậy. Ông cũng không mấy nhiệt tình chào đón quân tiếp viện – ba trung tướng mới, Henry Clinton, John “Gentleman Johnny” Burgoyne và William Howe, họ có tham vọng nhất trong quân đội. Gage biết mỗi người trong số họ đều đang thèm muốn vị trí chỉ huy của ông.

Nhờ hoạt động tình báo hiệu quả với những gián điệp ở trong hội đồng tối cao của quân phiến loạn, Gage biết những kẻ phiến loạn đã tích trữ đạn dược, vũ khí thậm chí cả súng đại bác. Ông cử một lực lượng gồm các đại đội tiến công bên sườn – lính ném lựu đạn và bộ binh là những người lính giỏi nhất của quân đội được trang bị vũ khí hạng nhẹ – để tịch thu vũ khí, đạn dược được tích trữ tại Concord. Tuy nhiên quân phiến loạn cũng có gián điệp. Những thứ tích trữ đã không còn ở đó nữa. Thay vào đó, quân lính ở Concord chỉ thấy đội quân nông dân được trang bị vũ khí chống trả quyết liệt buộc họ phải quay trở về Charlestown. Từ những ngôi nhà và sau các bức tường đá, quân phiến loạn nã đạn vào quân lính. Có vẻ như quân phiến loạn có tới hàng nghìn người. Sau trận đánh, họ bao vây Boston. Và họ xây dựng một pháo đài trên đồi Breed như thể họ là những người lính thực thụ. Tuy nhiên, Gage vẫn nghĩ rằng họ sẽ chạy như những kẻ hèn nhát khi quân đội chính quy tiến công.

Trong lúc đó, ông muốn ngay lập tức phản công vào pháo đài mà quân phiến loạn đã xây dựng đêm hôm trước. Ông triệu tập các tướng mới đến. Burgoyne trước đó là một nhà văn, nhà soạn kịch, do vậy ông ra lệnh cho anh ta phác thảo một thông điệp cho Graves xin Đô đốc ra lệnh tiếp tục nã đại bác vào pháo đài của quân phiến loạn. Thông điệp phải có tính thuyết phục. Nếu không, Graves – một nhân vật cấp cao trong Hải quân Hoàng gia Anh sẽ không bao giờ tuân lệnh một quân nhân mặc dù nhiệm vụ xóa bỏ pháo đài này là của quân đội. Bên cạnh đó, Graves vẫn có ác cảm với Gage vì mối bất hòa với cha của Gage từ những năm trước. Sau khi đã gửi thông điệp cho Graves, Gage muốn nghe suy nghĩ của các tướng dưới quyền về việc họ nên xử lí pháo đài này như thế nào.

Đám đông được trang bị vũ khí

Nếu như Gage có thể thăm trại của quân phiến loạn thì ông sẽ lo lắng vì số người mà ông nhìn thấy. Dân quân từ khắp nơi ở New England cũng như lính từ thuộc địa Bắc Mỹ và thậm chí cả dân quân từ miền Nam đã về đây. Tuy nhiên, ông sẽ thấy phấn khởi vì họ được tổ chức rất lộn xộn. Artemas Ward, chỉ huy dân quân Massachusetts, chỉ trên danh nghĩa của Ủy ban An toàn Massachusetts. Nhưng tất cả những chỉ huy dân quân đều coi mình là người quan trọng hơn người khác. Tướng Israel Putnam của Connecticut, người đã chỉ huy quân lính trong chiến tranh giữa Pháp và người da đỏ, vốn rất huênh hoang.

Dân quân Mỹ phòng thủ trên đỉnh đồi Bunker
Dân quân Mỹ phòng thủ trên đỉnh đồi (Ảnh: Diễn đàn Lịch sử Việt Nam LSVN)

Người Mỹ đã củng cố các vị trí ở cửa ngõ vào Boston và Charlestown. Hai thành phố này nằm trên hai bán đảo liền với nhau, gần như thành một hòn đảo, nhô ra phía cảng. (Ngày đó, phần Back Bay của Boston thực sự là một cái vịnh). Mỗi bán đảo được nối với đất liền bởi một dải đất hẹp, bằng phẳng. Không có quân lính thường trực ở Charlestown. Putnam đề nghị củng cố lực lượng trên đồi Bunker, điểm cao nhất trên bán đảo Charlestown. Điều này sẽ ngăn không cho quân Anh sử dụng Charlestown như bàn đạp để đột kích vào Concord. Đây cũng là nơi gần cảng Boston nhất.

Các vị tướng dân quân khác phản đối rằng ngọn đồi này rất dễ bị cô lập, khiến cho Hải quân Hoàng gia Anh hoàn toàn kiểm soát cảng. Tuy nhiên, không ai có thể ngăn Putnam dẫn quân vào bán đảo Charlestown trong màn đêm. Mặt khác, không ai sắp đặt việc cứu viện hay cung cấp nước, thực phẩm, đạn dược cho dân quân. Đi cùng với Putnam là Đại tá William Prescott ở Massachusetts, Đại tá Richard Gridley – một kĩ sư được quân đội đào tạo và 1200 nông dân được trang bị vũ khí, những người nông dân này sẽ đào xới ngọn đồi.

Bản đồ thể hiện vị trí quân Anh và Mỹ trong trận đồi Bunker
Bản đồ thể hiện vị trí quân Anh và Mỹ trong cuộc tấn công cuối cùng (lần 3). (Ảnh:wiki tiếng Anh)

Khi lên đến đỉnh đồi Bunker, họ đã suy nghĩ và quyết định là nên củng cố đồi Breed ở vị trí thấp hơn, có độ dốc lớn hơn và gần quân Anh hơn. Gridley phác thảo những nét chính của một pháo đài và Putnam ra lệnh cho người của ông đào. Pháo đài là một công trình bằng đất có diện tích 12 mét vuông với các bức tường cao 3,6 mét dựng lên từ một cái hào khô.

Prescott là người chỉ huy mặt trận trên đồi Breed, ông ra lệnh cho người của mình củng cố bên sườn các công sự. Họ dựng công sự trong cánh rừng tiếp giáp với một đầm lầy và dọc theo sông Mystic. Phía bên kia của bán đảo, nước của cảng Boston ở quá xa để có thể xây dựng công sự dọc theo bãi biển. Prescott cử một phân đội đi vào ngôi làng trong thị trấn Charlestown. Bằng cách bắn tỉa từ trong các ngôi nhà, họ có thể làm chậm bước tiến của quân Anh. Vẫn còn một chỗ trống ở phía cánh rừng bên trái, Prescott cử Đại úy Thomas Knowlton và một số dân quân Connecticut bít nó lại. Họ dựng phía sau hàng rào làm bằng đường ray một cái nền bằng đá. Dưới các dốc phía trên bờ sông Mystic, Đại tá John Stark và hai trung đoàn dân quân New Hampshire dựng phần cuối của hàng rào và xây một bức tường đá ngang qua bãi biển về phía bờ sông.

Khi tàu Lively bắt đầu nổ sung, công việc xây công sự bị gián đoạn một lát, nhưng khi con tàu ngừng bắn thì công việc xây dựng lại tiếp tục được tiến hành. Hầu hết đạn của họ bắn quá thấp. Công việc đào xới vẫn tiếp tục. Một người lính tên là Asa Pollard đi xuống đồi để lấy nước. Khi quay trở lại anh ta đã bị một quả đại bác đã phạt ngang đầu. Quân Mỹ tìm nơi để trốn. Nhưng lúc đó Prescott đứng trên bờ công sự, ông đi lên đi xuống khi ra lệnh cho lính tiếp tục đào.

Prescott để ý thấy một thanh niên ăn vận bảnh bao đang đi đến từ phía sau. Khi anh ta đến gần, đại tá nhận ra đó là Bác sĩ Joseph Warren, Chủ tịch Ủy ban An toàn và Chủ tịch Hội đồng cấp tỉnh. Warren vừa được nhận chức trung tướng. Prescott đề nghị Warren làm chỉ huy.

Warren nói: “Tôi sẽ không chỉ huy ở đây. Tôi đến đây như một người tình nguyện theo lệnh ngài với cây súng trường của tôi”.

Cuộc tiến công Đồi Bunker

Clinton sinh ra ở Newfoundland, lớn lên ở New York và đã đổ máu trên chiến trường châu Âu. Trong tổng hành dinh của quân Anh, Henry Clinton đưa ra một ý kiến: đề nghị đổ bộ vào Charlestown Neck. Đó là một dải đất chỉ rộng 31,5 mét nên sẽ có thể tiêu diệt được quân phiến loạn.

Gage khịt mũi tỏ vẻ rằng không cần phải quá tỉ mỉ như vậy. Quân phiến loạn sẽ phải bỏ chạy khi đối mặt với quân chính quy trong cuộc tiến công. Đó sẽ là một đòn đánh mạnh vào tinh thần chiến đấu của họ. William Howe phản đối cả hai kế hoạch. Howe là anh em của Thị trưởng Augustus Howe, người sáng tạo và tinh thông các chiến thuật bộ binh. James Wolfe, người đi chinh phục Quebec, coi William Howe là viên tướng trẻ dũng cảm và tài giỏi nhất trong quân đội. Howe đã chỉ huy cuộc tiến công của Wolfe vào vùng đồng bằng Abraham.

Howe chỉ ra rằng quân lính đổ bộ vào vùng đất hẹp lầy lội, không có nơi trú ẩn sẽ bị kẹt giữa quân phiến loạn ở phía bắc và quân phiến loạn ở phía nam, cả hai đều ở vùng đất cao. Thủy triều chỉ cho phép quân đội đổ bộ rồi rút quân trong ngày và chỉ ở một điểm cách Charlestown Neck nửa dặm. Howe đề nghị đổ bộ vào mũi đất Moulton, phía đông của Charlestown, trước đồi Breed. Tuy nhiên, nó sẽ không phải là một cuộc tiến công dễ dàng. Một phân đội, dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng Robert Pigot, sẽ vào làng Charlestown và hành quân đến pháo đài của quân phiến loạn. Pigot sẽ không tiến công. Ông sẽ chỉ giữ quân phiến loạn ở nguyên tại chỗ, trong khi lực lượng còn lại của quân đội Anh tiến công tiêu diệt chúng. Howe dẫn đầu lính ném lựu đạn – đội quân xung kích ở thế kỷ XVIII – và đại đoàn quân sẽ tiến công vào công sự được đào vội vàng từ phía sông Mystic. Tuy nhiên bộ binh hạng nhẹ, lực lượng được Howe ưu ái sẽ tiến công đầu tiên. Lính bộ binh hạng nhẹ, những đấng nam nhi dẻo dai, nhanh nhẹn và được huấn luyện tính quyết đoán, sẽ hành quân lên phía bãi biển Mystic River, ẩn nấp dưới những con dốc, và tiến công vào bên sườn của quân phiến loạn. Tiếp đó, từ phía sau công sự, họ sẽ tấn công quân phiến loạn bằng lính ném lựu đạn, còn đại đoàn quân sẽ tiến công ồ ạt.

Sau khi đổ bộ, phân đội của Pigot tiến lên dưới làn đạn của những người bắn tỉa. Pigot yêu cầu pháo binh hỗ trợ. Tàu của quân Anh trả lời bằng cách nã đại bác (những quả đại bác được đốt nóng đỏ) và đạn phóng lửa (viên đạn rỗng được đổ đầy một hỗn hợp chất xơ và hắc ín dễ cháy) vào thị trấn. Ngôi làng nhanh chóng biến thành biển lửa nóng bỏng. Pigot dẫn quân đi xung quanh thị trấn và lên phía pháo đài của quân phiến loạn. Bên cánh phải của quân Anh, Howe tập hợp quân của mình thành ba lớp.

Howe nói với họ: “Tôi sẽ đi đầu và không muốn ai đi trước tôi dù chỉ một bước”. Ông nhấn mạnh điều đó.

Phía sau công sự, việc tiến đến chậm trễ và sự tĩnh lặng không tiếng súng của quân Anh khiến quân Mỹ lúng túng. Lính Anh chậm trễ vì họ phải khó nhọc đi qua đám cỏ rậm che khuất những bức tường đá và hào. Còn súng đại bác của quân Anh vẫn chưa nổ bởi vì chúng bắn đạn nặng 2,7kg mà họ lại được cung cấp loại đạn nặng 5,4kg.

Quân Mỹ ẩn nấp từ phía sau công sự và quân Anh là những lính bộ binh hạng nhẹ. Họ nhanh chóng xếp bốn hàng từ bãi biển lặng lẽ tiến về đây không hề chậm trễ như một bức tường đá. Dẫn đầu là đại đội bộ binh hạng nhẹ Royal Welch Fusiliers.

Khi những người xứ Wales còn cách bức tường 300 mét, thì một tiếng nổ inh tai và một đám khói bốc lên. Đại đội trang bị vũ khí hạng nhẹ Royal Welch Fusiliers đã không còn. Đội bộ binh hạng nhẹ của Đức vua đi sau Royal Welch, chậm lại chưa đến một giây, rồi họ chĩa lưỡi lê và tiến công trước khi quân phiến loạn có thể nạp lại đạn. Họ nhảy qua xác đồng đội của mình và la hét giận dữ khi loạt đạn thứ hai nhằm vào họ phát nổ. Đại đội bộ binh thứ 10 được trang bị vũ khí hạng nhẹ tạm dừng. Loạt đạn thứ ba phát nổ. Toàn bộ hàng dọc bộ binh hạng nhẹ chạy tán loạn về phía sau.

Sau bức tường, John Stark đưa ánh mắt báo điềm gở nhìn ba hàng dân quân của mình đang nằm sõng xoài. Điều này làm nản chí bất cứ mong muốn đánh đuổi quân thù hay tinh thần hăng hái nào.

Ông ra lệnh: “Nạp đạn và đợi”.

Nếu đại đội thứ tư tiếp tục tiến công, trận đánh đã có thể kết thúc. Tất cả điều này đã được những người lính đi theo Howe che giấu. Quân tiên phong đã bắt đầu ném một loạt lựu đạn vào công sự tĩnh lặng khi họ cách đó 70 mét và tiến công ngay lập tức. Họ được yểm trợ khoảng 30 mét khi họ thấy quân phiến loạn với những mũi súng trường xuất hiện nhấp nhô trên bức tường đất. Một tiếng nổ inh tai, một đám khói trắng bốc lên. Howe nhìn xung quanh. Ở phía sau ông ta, thay vì là một hàng lính phía, nay chỉ còn lại vài người lính đứng trơ trọi. Những người lính sống sót bắn trả nhưng chỉ trúng bùn đất. Quân phiến loạn lại tiếp tục bắn. Những người lính của quân phiến loạn  ném lựu đạn xuống đồi. Các đoàn quân Anh ở lớp thứ hai tiến lên và nổ súng nhưng chẳng bắn trúng gì cả. Trong khi đó, quân phiến loạn bắt đầu bắn nhanh hết mức có thể.

Một sĩ quan Anh sau đó đã viết lại: “Một loạt đạn liên hồi bắn ra từ phía quân phiến loạn. Dường như nó kéo dài liên tục trong gần 30 phút”.

Howe thét gọi quân lính và vung gươm của mình lên, nhưng quân Anh đã chạy về phía sau.

Quân của Pigot khi ở gần công sự cũng có cùng trải nghiệm như vậy.

Clinton sau khi theo dõi trận chiến từ đồi Copp’s Hill ở Boston đã viết lại: “Tướng Burgoyne và tôi thấy xuất hiện bên trái đội quân – điều đó làm chúng tôi rùng mình. Cuối cùng, trận đánh đã thua”. Clinton tập trung quân dự bị và dẫn họ qua vịnh. Đồng thời, ông xếp những người bị thương có thể đi bộ thành một nhóm khác.

Howe không để cho Clinton cướp chiến thắng của ông. Mười lăm phút sau khi bị đẩy lùi Ông và Pigot tổ chức lại đội hình, bộ binh hạng nhẹ, lính ném lựu đạn cùng với đoàn quân, và dẫn họ lên đồi. Lúc này không cần quá thận trọng. Đơn giản đó là một cuộc tiến công chính diện vào quân thù đang cố thủ. Một trận chiến đẫm máu. Quân Anh lại bị đẩy lùi lần nữa.

Trên đồi, hầu hết quân phiến loạn đã không ăn hoặc không ngủ kể từ đêm hôm trước. Và hiện giờ họ đang dần hết đạn.

Với lần tiến công thứ ba, Howe sắp xếp quân lính thành đội hình hàng dọc dài để tránh bị trúng đạn cùng một lúc. Ngay khi quân Anh xếp hàng, quân Mỹ đã nổ súng. Quân phiến loạn đã bắn cho tới khi họ hết đạn. Một số người còn dùng sỏi và đinh để bắn thay đạn. Quân Anh tràn vào công sự nhưng lực lượng dân quân không hề hỗn loạn.

Quân Anh tổ chức đợt tấn công thứ ba, cho dù đã chịu nhiều thiệt hại.
Quân Anh tổ chức đợt tấn công thứ ba, cho dù đã chịu nhiều thiệt hại. (Ảnh: wiki Tiếng Anh)

Về việc quân phiến loạn rút lui, Gentleman Johnny Burgoyne đã miêu tả: “Họ không bỏ chạy mà rút quân với sự can đảm và có tổ chức”.

Trong số 1800 người Mỹ tham gia chiến đấu, 449 người đã chết hoặc bị thương. Một trong số đó là Bác sĩ Joseph Warren đã tử trận vào phút cuối cùng của trận đánh. Quân Anh bị thiệt hại nặng nề, 1060 người đã tử trận hoặc bị thương trong số 2600 lính.

Henry Clinton bình luận: “Để giành được chiến thắng, chúng ta phải trả giá quá đắt”.

Cái giá đó không đáng. Người Anh có được một ngọn đồi không mấy quan trọng. Còn người Mỹ có được sự tự tin. Tại Concord, họ đã đe dọa quân Anh bằng quân số, nhưng súng đạn của họ lại khá nghèo nàn. Họ đã từng lo lắng vì họ đang làm phản và nổ súng vào đội quân có lẽ là thiện chiến nhất thế giới. Nhưng tại đồi Bunker, họ đã chống lại một lực lượng đông hơn và đẩy lui quân Anh cho đến khi hết đạn.

 Nếu người Mỹ kiên quyết kháng cự, người Anh sẽ phải đối mặt với một hoàn cảnh tuyệt vọng. Thuộc địa này là một vùng đất bao la rộng 1600km và kéo dài 1600km. Dân số ở đây bằng một phần tư dân số của người Anh và Ireland cộng lại, phần lớn họ sống tự cung tự cấp. Mặc dù Philadelphia không phải là trung tâm đầu não nhưng nó là thành phố nói tiếng Anh lớn thứ hai trên thế giới, kéo dài qua 4800km đường biển. Nói tóm lại, nó lớn tới mức không một lực lượng nào trong thế kỷ XVIII có thể xâm chiếm được.

Theo: William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

Xem thêm: