Trận chiến Adrianople, năm 378 tận diệt quân La Mã

0
395

Trận chiến Adrianople, năm 378 giữa quân La Mã (Valens) với người Goth (Aletheus và Sarfac). Với việc tận diệt quân La Mã, đây là điểm khởi đầu sự sụp đổ của đế quốc La Mã và nhấn mạnh vai trò của kị binh, một bộ phận thiết yếu trong quân đội thời phong kiến.

Hoàn cảnh trước rận chiến Adrianople

Valens – hoàng đế La Mã phương Đông, trông thấy một cảnh tượng khác thường nhất. Một đám đông người Visigoth đứng ở bờ bên kia của sông Danube, la hét và vung vũ khí lên. Nhưng họ không đe dọa, mà họ đang cầu xin – cầu xin được thừa nhận vào đế quốc La Mã.

Eunapius – nhà sử học người La Mã thời đó, đã viết: “Đa số người Scythia [nhóm người Goth]… trong tổng số khoảng 200 000 người đang ở độ tuổi chiến đấu. Họ hứa rằng sẽ gắn bó trung thành với liên minh của đế quốc nếu ân huệ này được trao cho họ.

Valens đã tham gia vào một cuộc chiến tranh với Ba Tư. Ông xem binh lính người Goth là một lực lượng tiếp viện có tiềm lực lớn cho đội quân của ông. Ông đã nói với các tướng chịu trách nhiệm bảo vệ biên giới là Lupicinus và Maximus cho phép người Goth đi vào nếu họ giao nộp vũ khí.

Ông có thể đã suy nghĩ sâu sắc rằng “rủi cho người này nhưng may cho người khác”, hoặc dù gì đi nữa thì người La Mã cũng có những câu giống như câu cách ngôn đó.

Điều rủi đó dành cho người Visigoth và người anh em của họ là người Ostrogoth. Điều rủi đó vượt ra khỏi phương Đông và được gọi là người  Hung Nô.

Các binh lính người Goth
Các binh lính người Goth (Ảnh: nghiencuulichsu.com)

Người Goth và La Mã đã là láng giềng trong hơn một thế kỷ. Mối quan hệ của họ, ngoại trừ cuộc chiến tranh Goth lần thứ nhất (năm 250 – 270) còn nhìn chung là hoà bình. Mặc dù người hiện đại thường hình dung người Goth là những người man rợ mặc đồ da thú và chẳng thích gì ngoài việc cướp bóc, cưỡng hiếp, tàn sát nhưng họ là tín đồ theo đạo Cơ Đốc, có chữ viết và được giáo dục như những người La Mã bình thường. Nhiều người biết đọc biết viết tiếng Latinh và Hi Lạp cũng như tiếng mẹ đẻ của họ. Một người Goth là Jordanes từng là nhà sử học xuất chúng và là một trong số những nguồn cung cấp thông tin chính cho chúng ta về thời kì này. Nhưng người  Hung Nô lại là một chuyện khác.

Người  Hung Nô

Binh lính Hung Nô
Binh lính Hung Nô (Ảnh: wikipedia)

Người Hung Nô là những người man rợ thực sự. Họ không có chữ viết và giao thương, mà chỉ sống thành từng bầy và đánh nhau. Trong nhiều thế kỷ, họ đã tàn phá đế quốc Trung Hoa. Đôi lúc họ thống trị Trung Hoa, những cũng có khi Trung Hoa thống trị lại họ. Sau một trong những cuộc chiến tranh của họ với Trung Hoa, người Hung Nô bị phân tán. Một nhóm người Hung Nô đã chạy trốn sang phương tây và dừng chân trên biên giới của Ba Tư. Sau này họ được biết đến như là người Hung Nô trắng, đặt theo màu của phương Tây trong hệ thống biểu tượng của người Viễn Đông (phương Bắc là màu đen; phương Nam là màu đỏ; phương Đông là màu xanh; phương Tây là màu trắng và ở giữa là màu vàng). Người Ottoman Thổ Nhĩ Kì đặt tên là biển Đen vì nó ở phía bắc của họ và biển Đỏ vì nó ở phía nam của họ. Do tên của họ, một số tác giả đã nói người Hung Nô trắng thuộc về chủng tộc người da trắng (một quan niệm hoàn toàn sai). Người Hung Nô về cơ bản là người Thổ Nhĩ Kì, nhưng ở giai đoạn cường thịnh, họ đã đồng hóa những nhóm dân tộc thiểu số khác (Mông Cổ,  Mãn Châu và Iran).

Trên vùng thảo nguyên, quyền lực thay đổi nhanh chóng. Trong thế kỷ thứ tư, người Hung Nô sau khi tàn phá khắp Trung Hoa, đã bị người Avar là một dân tộc Mông Cổ đánh bại bị đẩy về hướng tây. Khi trôi giạt trên các thảo nguyên hướng về châu Âu, người Hung Nô đã xung đột với người Alan. Người Alan nắm quyền thống trị các dân tộc người Sarmatia – một dân tộc Iran đã thay thế người Scythia làm chúa tể các thảo nguyên ở khu vực trung tâm và khu vực phía tây. Người Alan dường như là những chiến binh vĩ đại nhưng khả năng quân sự của họ rõ ràng không tương ứng với khả năng đoàn kết. Nhiều tộc người không phải người Alan như Slavic Antes và Sarmatian Roxalani có người đứng đầu là người Alan. Và vài thế kỷ sau, tộc người Alan đã có mặt ở khắp châu Âu, họ chiến đấu gần như trong mọi cuộc chiến và đứng ở cả hai phe đánh nhau trong mỗi trận chiến.

Có lẽ người Alan đã không thể đoàn kết khi họ xung đột với người Hung Nô hoặc có thể người Hung Nô có hệ thống tổ chức quân đội tốt hơn. Giống như những binh lính của Thành Cát Tư Hãn, hàng thế kỷ sau đó, người Hung Nô chiến đấu ở những đơn vị hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn, và đôi lúc là hàng vạn người. Tất cả họ đều là kị binh hạng nhẹ mặc áo giáp bằng da thú, sử dụng vũ khí chính là cây cung. Theo Ammanianus Marcellinus – nhà sử học đồng thời là lính La Mã thời đó: “Người Hung Nô chiến đấu từ xa bằng những mũi tên”. Sau khi trận mưa tên làm kẻ thù mất tinh thần, “họ phi nước đại vào khoảng giữa và đánh nhau tay đôi một cách liều mạng, trong khi kẻ thù đang cố gắng tránh bị thương bởi những nhát kiếm thì họ ném dải dây vải được bện thành thòng lọng qua kẻ thù và thắt chặt chúng”.

Người Alans cũng giống như tất cả dân du mục trên thảo nguyên, họ có kị binh hạng nhẹ, nhưng họ còn có cả kị binh hạng nặng. Những quý tộc của họ mặc áo giáp sắt,sử dụng cả giáo và cung tên. Giống như người Hung Nô, người Alan dùng yên cương và có bàn đạp ở yên ngựa làm bằng da hoặc bằng gỗ. Yên cương và bàn đạp ở yên ngựa làm cho cây giáo trở thành vũ khí hiệu quả hơn rất nhiều so với kị binh của Alexander không dùng yên cương và bàn đạp. Do tổ chức quân đội chặt chẽ theo cơ số 10, người  Hung Nô có thể dễ dàng phân tán trước sự tiến công của những kị binh đánh giáo và sau đó ngay lập tức tập hợp lại. Người Hung Nô đã chiến thắng và thay thế người Alan nắm quyền trên những thảo nguyên ở khu vực trung tâm. Họ cố gắng kết nạp nhiều người Alan vào bộ lạc du cư của họ. Những người trong bộ tộc Alan còn lại đã phân tán. Một số người gia nhập với người Goth; số khác tiếp tục tiến về hướng tây tới ranh giới giữa thảo nguyên và rừng.

Chiến thắng đã khích lệ người Hung Nô đi xâm chiếm xa hơn. Họ gặp một dân tộc khác cũng có tư tưởng tương tự, đang di chuyển theo hướng ngược lại. Người Ostrogoth (người Goth ở phương Đông) đã học cách dùng kị binh hạng nặng từ người Sarmatia. Dưới triều vua Ermenrich, họ đã chinh phục một số bộ tộc như người Sarmatia, Slavic và đang tiến về hướng đông. Người Hung Nô đã chặn đứng việc di chuyển đó. Vua Ermenrich bị giết trong trận chiến và người Hung Nô kết nạp nhiều người Goth vào trong bộ lạc du cư của họ. Những người Ostrogoth còn lại chọn một vị vua mới là Vithimir và rút lui tới phương tây. Trên đường đi họ bị người Antes phương tây chặn. Người Ostrogoths tiến công và đánh bại người Antes. Sau đó, Vithimir đóng đinh vua Ante, các con trai và 70 quý tộc của vị vua này lên giá chữ thập. Nhưng hóa ra đó không phải là một cách hay để thoát khỏi người Hung Nô. Nhà vua và các thủ lĩnh bộ tộc Ante là người Alan và là họ hàng của những thủ lĩnh người Alan trong đám rợ Hung Nô. Người Hung Nô cho phép những người Alan trong  đội quân của họ được trả thù cho họ hàng. Ammanianus nói: “Vithimir đã làm vua và chống lại Halani trong một thời gian… nhưng sau nhiều lần thua trận liên tiếp, ông ta đã bị đánh bại bởi sức mạnh của vũ khí và chết trong trận chiến”. Bộ lạc Ostrogoth đã bị giảm đi rất nhiều, rút lui xa hơn. Đóng vai trò quan nhiếp chính cho con trai trẻ dại của Vithimir là hai thủ lĩnh: Aletheus (người Goth) và Sarfac (người Alan). Bộ lạc rợ Hung Nô tiến lên và người Ostrogoth đã dựng trại gần những người anh em của họ là Visigoth. Mặc dù có cùng một ngôn ngữ nhưng hai nhóm người Goth không chịu hợp tác với nhau. Sau đó, vào ban đêm, người Hung Nô tiến công trại của người Visigoth và đuổi người Goth phương Tây chạy đến biên giới La Mã. Người Ostrogoth đi theo người Visigoth nhưng họ lén vượt qua sông thay vì xin phép để đi vào.

Trận chiến Adrianople

(Ảnh minh họa: wikipedia)

Người Visigoths bị buộc phải giao nộp vũ khí khi vượt qua biên giới. Tuy nhiên, nếu họ sẵn sàng bán rẻ vợ hoặc con mình thì các quan chức La Mã sẽ để họ giữ vũ khí. Người La Mã cũng đồng ý cung cấp cho người Visigoth lương thực nhưng họ nhanh chóng quên đi lời hứa đó. Người Visigoth bắt đầu tự lực cánh sinh. Vì lẽ đó, người Ostrogoth đã không thỏa thuận với người La Mã và giờ họ đi qua đế quốc La Mã bất cứ lúc nào họ muốn.

Để xử lí vấn đề người Visigoth, Lupicinus và Maximus đã mời vua cùng với các quý tộc Visigoth tới dự một bữa tiệc, sau đó cố gắng ám sát họ. Những thủ lĩnh Visigoth trốn thoát và bắt đầu gây chiến, lúc này có sự tham gia của người Ostrogoth. Người Goth hoạt động trong nhiều nhóm riêng lẻ, vì vậy khó có đội quân chính quy nào có hiệu quả khi tìm cách tiêu diệt với họ. Vì vậy, người La Mã bắt đầu sử dụng những nhóm người rải rác, phục kích những kẻ cướp bóc người Goth. Người Goth rút lui về trại chính của họ, một vành đai bằng xe ngựa gần Adrianople.

Valens đã bỏ mặc nhiệm vụ thanh toán những nhóm người Goth cho các quan dưới quyền. Mặc dù vậy, ông thấy hiện giờ có cơ hội để kết thúc chiến tranh bằng một trận chiến lớn nên ông đã tự mình chỉ huy. Vua của Visigoth là Fridigern, ngỏ ý muốn dàn hòa với điều kiện người La Mã sẽ nhượng cho ông tỉnh Thrace. Valens đã từ chối đề nghị này và hành quân đến trại của người Goth. Kị binh La Mã bảo vệ mỗi bên sườn đội quân của Valen, còn bộ binh tập trung ở giữa. Khi thấy quân La Mã dàn trận, vua Fridigern lại yêu cầu dàn hòa lần nữa.

Valens đã cử một đoàn sứ giả tới trại xe ngựa của người Goth. Tuy nhiên, trước khi sứ giả của ông gặp được thủ lĩnh của người Goth thì một người lính La Mã trong đội bảo vệ sứ giả lo lắng vì anh ta nghĩ mình nhìn thấy một mối nguy hiểm rình rập sau những chiếc xe ngựa. Anh ta đã bắn một mũi tên vào người Goth. Người Goth bắn trả vào tất cả bọn họ. Người La Mã chạy trốn khỏi trận mưa tên. Vài người trở lại hàng ngũ đã làm rối bộ binh La Mã. Kị binh cánh trái của La Mã tiến công vành đai xe ngựa nhưng họ không thể vượt qua. Lúc đó, Aletheus cùng với Sarfac lãnh đạo kị binh hạng nặng người Ostrogoth và Alan đốt khu rừng – nơi mà họ đã tìm thức ăn. Họ tiến công kị binh La Mã ở cánh  phải và đuổi họ ra khỏi chiến trường. Sau đó, họ tiến công kị binh La Mã ở cánh trái – những kẻ lúc này đang đánh phá xung quanh chiếc xe ngựa của người Visigoth – và đánh những cánh quân này tan tác. Ngựa La Mã chạy khỏi hàng, người Ostrogoth và Alan tham gia cùng người Visigoth từ trại ra tiến công bộ binh La Mã. Bộ binh La Mã bị đánh bất ngờ đã không kịp dàn trận để đương đầu với cuộc tiến công. Người Goth với người Alan bao vây và dồn lính bộ binh La Mã tập trung vào với nhau để họ không có một không gian đủ rộng để có thể sử dụng vũ khí của mình. Hai phần ba đội quân La Mã – khoảng 40 .000 người đã bị giết và Valens cũng nằm trong số đó. Đây là lần thua trận thảm hại nhất của người La Mã kể từ trận Cannae, cách đó 600 năm.

Hậu quả

Adrianople đã bắt đầu cái mà các nhà sử học quân sự gọi là “chu kì kị binh”, thời kì khi các kị binh hạng nặng, điển hình là các hiệp sĩ thời Trung cổ, thống trị trên chiến trường châu Âu. Đó cũng là khởi đầu sự kết thúc với đế quốc La Mã. Giờ đây người Goth xây dựng sự ổn định bên trong La Mã, một dân tộc độc lập, du cư được vua và những quý tộc của chính họ cai trị. Đôi lúc, người Goth thừa nhận một chút lòng trung thành với hoàng đế người La Mã, nhưng họ luôn luôn hành động độc lập hoàn toàn. Cuối cùng, người Visigoth đã đánh bại La Mã và tiếp quản Gaul cùng với Tây Ban Nha. Một thời gian sau đó, người Ostrogoth đã phế truất hoàng đế La Mã phương Tây và một mình chiếm giữ Italia. Và như chúng ta đã biết, thất bại của đế quốc La Mã phương Tây đã đánh dấu thời điểm ra đời của nền văn minh phương Tây.

William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

Xem thêm:

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây