Trận Carrhae, năm 53 TrCN: một trong những thất bại nặng nề nhất trong lịch sử La Mã

0
79

Trận Carrhae, năm 53 trước Công nguyên giữa La Mã  (Crassus) với Parthia (Surena) là một trong những thất bại nặng nề nhất trong lịch sử La Mã đồng thời bảo toàn sự tồn tại của nền văn minh phương Đông.

Một Alexander mới?

Marcus Licinius Crassus – người giàu nhất ở La Mã – đang trên đường tới nơi gia nhập đội quân của mình và thực hiện chiến công vĩ đại ở phương Đông. Tuy nhiên, không phải tất cả người La Mã đều mong chờ điều đó.

Marcus Licinius Crassus.
Marcus Licinius Crassus. Ảnh: wikipedia

Sau cuộc xâm lược của Hannibal, có vẻ như tình trạng hỗn loạn kéo dài và cuộc nội chiến ở Italy đã kết thúc với ba nhân vật quan trọng nhất trong thế giới của người La Mã. Crassus là một trong ba người đó, ông là phó tướng cũ của quan tổng tài trước đây là Sulla. Ông đã sử dụng địa vị của mình trong phe chiến thắng để trở nên giàu có nhờ đất đai của kẻ thù. Pompey – trợ thủ đắc lực của Sulla – là thứ hai. Pompey đã ghi danh cho mình bằng cách tiêu diệt cướp biển ở Địa Trung Hải và đánh đổ những vị vua tự mãn ở phương Đông. Nhân vật chính thứ ba là lãnh đạo của phái bình dân – phái này trước đây được chỉ đạo bởi kẻ thù của Sulla là Marius – còn giờ thì là Julius Caesar.

Crassus và Pompey tìm cách để họ được bầu làm quan chấp chính tối cao, bất chấp Hội đồng Nguyên lão. Cả hai không quan tâm đến người khác và đều lo sợ Caesar ngày càng mạnh. Để tránh xảy ra nội chiến, ba người đã gặp nhau và thực tế họ đã phân chia đế quốc La Mã cho bản thân mình. Lãnh địa của Pompey sẽ là Tây Ban Nha, của Caesar là Gaul và của Crassus là Syria. Mỗi người hi vọng cai trị phần của mình theo một cách để bản thân vượt trội hơn so với hai người kia và trở thành người cai trị duy nhất của La Mã.

Crassus hài lòng với phần của ông. Pompey có Tây Ban Nha – nơi có những mỏ bạc và kiểm soát tất cả thương mại với những vùng đất bí ẩn bên ngoài Pillars of  Hercules. Tuy nhiên, Tây Ban Nha hoàn toàn bị bao quanh bởi vùng nước hoặc bởi đất phong của Caesar ở Gaul. Không có “đất” cho những người lính “dụng võ”. Cả ba người đều là lính. Crassus có ít kinh nghiệm nhất, nhưng ông đã đè bẹp sức mạnh đội quân nổi loạn của Spartacus. Caesar ở Gaul, có nhiều cơ hội để thể hiện tài năng quân sự của mình. Mặc dù vậy, người Gaul hầu hết là những người man rợ, trên vùng đất của họ không có sự giàu có.

Syria thì khác. Ở hướng đông của Syria là Babylon và vùng đất cổ đại giữa những dòng sông. Phía đông của vùng đất cổ là Ba Tư, bây giờ do người Parthia nắm giữ, xa hơn là những đế quốc bí ẩn của phương Đông.

Crassus, yên lặng và thoải mái trước khi ông tham gia chế độ “tam hùng”. Theo Plutarch, Crassus là người “kiêu ngạo khác thường và trong đầu ông ta hừng hực… ông ta đặt ra mục tiêu với hi vọng vượt qua những nơi xa xôi như Bactria, Ấn Độ và tận cùng đại dương”.

Nói cách khác, ông ta xem mình như là Alexander mới – một Alexander vĩ đại hơn. Ông sẽ vượt qua Ấn Độ và chinh phục vương quốc huyền thoại Trung Quốc. Khi quay trở lại La Mã với chiến thắng, ông sẽ đứng đầu thế giới và hai đối thủ của ông sẽ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc tuân theo ông.

Không phải tất cả người La Mã đều vui mừng với ý nghĩ rằng một người đàn ông giàu có có thể sử dụng nhân lực và nguồn lực của La Mã để gây chiến với một đất nước thân thiện vì lợi ích cá nhân của anh ta. Một người có suy nghĩ như vậy là Ateius – một hộ dân quan (một chức quan bảo vệ dân). Ateius đã phát động một đám đông dân chúng để ngăn chặn Crassus trên đường ông ta ra khỏi thành phố. Tuy nhiên, Pompey đã xuất hiện và trấn tĩnh đám đông, vì vậy Crassus có thể đi qua. Ateius lao về phía trước và đợi Crassus ở cổng thành. Khi Crassus xuất hiện, Ateius thắp một nén hương, đổ rượu trên mặt đất và “chửi rủa ông ta với những lời lẽ thậm tệ, gọi tên một số vị thần kì lạ và khủng khiếp”.

Mặc dù vậy, Crassus đang mải nghĩ về vàng của phương Đông và vinh quang khi ông quay trở lại thành La Mã, ông ít nghĩ tới “vị thần kì lạ và khủng khiếp” hay những kẻ thù tương lai là người Parthia.

Người  Parthia

Người Parthia có họ hàng với người Scythia – hoặc Sakas, như họ tự gọi bản thân mình. Họ có ngôn ngữ tương tự với người Ba Tư và Media. Trong hàng thế kỷ, họ đã lang thang trên những đồng bằng của Trung Á, bao gồm phần phía đông của đế quốc Ba Tư. Khi Alexander và những người Hi Lạp của ông hành quân qua Ba Tư trên đường tới Ấn Độ, những người Parthia chấp nhận là một phần của đế quốc Macedonia và sau này là một phần của vương quốc Seleucid Hi Lạp.

Một thanh niên trong trang phục Parthia,
Một thanh niên trong trang phục Parthia, Palmyra, Syria vào nửa đầu thế kỷ III. Tượng khắc trang trí. Bảo tàng Louvre.

Vào khoảng năm 250 trước Công nguyên, Arsaces – thủ lĩnh của người Parthian – đã tuyên bố độc lập và liên minh với Bactria – một vương quốc ở Trung Á do người Hi Lạp cầm quyền, nó bao trùm hầu hết khu vực Kazakhstan, Kyrgysrtan và Tajikistan.

Antiochus III – cha của kẻ thù của Judas Maccabeus (xem trận Emmaus, năm 166 tr.c.n) – đã buộc người Parthian thừa nhận quyền làm chủ của ông sau một cuộc chiến kéo dài 7 năm. Tuy nhiên, người Parthian vẫn không khuất phục. Dưới thời Mithradates I, người Parthian lại nổi dậy và đuổi người Hi Lạp ra khỏi Ba Tư và Media. Năm 145 trước Công nguyên, Mithradates chiếm Seleucia ở Tigris (Iraq ngày nay) và biến nó thành thủ đô của mình.

Sau sự kiện đất nước Trung Quốc xa xôi đã chặn đứng cuộc hành quân viễn chinh của người Parthia. Hoàng đế Hán Vũ Đế tiến hành một cuộc tiến công lớn vào người Hung Nô. Thủ lĩnh của người Hung Nô phương Tây bị chặt đầu và những thần dân của ông bị phân tán. Những binh lính Trung Quốc tiến vào Trung Á. Một nhóm dân du cư khác – những người man rợ da trắng mà người Trung Quốc gọi là chủng Âu, đã chuyển chỗ. Người chủng Âu di chuyển về hướng tây, gần như phá hủy Bactria và vương quốc Menander của người Hi Lạp ở bên cạnh và đe dọa vùng biên giới phía đông của người Parthian. Người chủng Âu đã đẩy bộ tộc Saka ở bên ngoài lãnh địa của người Parthia vào trong đế quốc của Mithradates. Đây là trận đấu lại trong trò chơi cờ đôminô Trung Á được tiếp tục một cách định kì cho đến thời kì của Tamerlane. Những người Armenia – dân tộc đã bị người Parthia chế ngự – đã lợi dụng sự rối loạn và tuyên bố độc lập. Tuy nhiên, người Parthia tập hợp lại dưới quyền Mithradates II đã đánh tan kẻ xâm lược người Saka và người Armenia. Giống như Đại đế Ba Tư trước đây, thủ lĩnh của người Parthia trở thành vua của các vị vua. Bên cạnh việc cai trị Parthia, ông đã thống trị các vị vua của Armenia, Elmais (Elam) cùng với Persis (Ba Tư) và vương quốc Suren, thống trị phần lớn nước của người Saka – giống như vùng đệm giữa Parthia và Saka hoang vu – và cả những người chủng Âu trên thảo nguyên. Khi Crassus di chuyển vào Syria, người Parthia đã đi qua biên giới. Họ đã đạt được thỏa thuận với người La Mã và mối quan hệ trở nên hòa bình. Đó là một điều tốt cho cả hai nước, cả hai đã xem xét việc thành lập quân đội riêng của họ.

Cung thủ trên ngựa và những đơn vị cấp legion

Quân đội Parthia chỉ sửa đổi một chút hệ thống quân đội cổ đại của tất cả những dân du cư Âu – Á. Hệ thống quân đội này đã được người Cimmerian cùng với người Saka sử dụng, sau này được người Sarmatian, Hung Nô, Thổ Nhĩ Kì và Mông Cổ sử dụng. Hệ thống này dựa vào con ngựa và cây cung. Cả hai là những thứ thiết yếu cho những người chăn gia súc, những người phải bảo vệ vật nuôi của họ khỏi những con chó sói, gấu, báo và những kẻ thù là con người. Ngựa là động vật nhỏ với khả năng chịu đựng lớn. Những cây cung được làm từ sừng thú, gỗ và dây – vũ khí mạnh hơn nhiều so với vũ khí của các dân tộc định cư. Cách tổ chức quân đội của người Parthia cũng cổ xưa và truyền thống giống như vũ khí của họ. Kị binh được chia vào những đơn vị gồm hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn và đôi khi là hàng vạn người. Người chỉ huy ra hiệu lệnh cho họ bằng cách dùng cờ và đánh trống trên lưng ngựa.

Kỵ binh Parthia vừa cưỡi ngựa vừa bắn cung khiến quân La Mã gặp tổn thất nặng nề trong trận Trận Carrhae

Người dân du cư man rợ chiến đấu dưới quyền những người đứng đầu gia tộc của họ, và người Parthia chiến đấu dưới quyền những thủ lĩnh do nhà vua chỉ định, nhưng hầu hết các thủ lĩnh là những người đứng đầu gia tộc. Quân đội của Crassus sẽ đương đầu với một người lãnh đạo gia tộc vĩ đại nhất, người đứng đầu gia tộc Suren, được người La Mã gọi là Surena. Surena chỉ mới 30 tuổi, bằng một nửa tuổi của Crassus. Ông ta cao, đẹp trai và nổi tiếng dũng cảm, nhưng cũng rất chăm chút ngoại hình và mang theo hàng tá nàng hầu để giải trí trên đường hành quân.

Thay đổi mà người Parthia đưa vào hệ thống quân đội cổ đại trên thảo nguyên là sử dụng những kị binh đánh giáo mặc áo giáp sắt – điều họ đã học được từ người Ba Tư. Những người Parthia giàu nhất mặc áo giáp sắt nhiều lớp, được tạo thành từ những mảnh kim loại mỏng, gắn vào nhau trùm từ đầu tới chân. Họ cưỡi ngựa lớn và mang giáo dài. Tất cả người Parthia, cung thủ cũng như kị binh đánh giáo đã sống trên lưng ngựa. Một thiên niên kỉ tìm tòi đã phát triển hệ thống quân đội của người Parthia. Chẳng có gì thích hợp với chiến tranh trên những đồng bằng khô cằn của châu Á hơn hệ thống này.

Tuy nhiên, hệ thống này lại không phù hợp với chiến tranh ở vùng rừng núi. Mithradates II đã rất vất vả để những cư dân trên núi người Armenia công nhận chủ quyền của ông; còn người La Mã đã khiến người Parthia gặp khó khăn lớn trên những ngọn núi của Syria.

Đội quân Crassus đang chỉ huy khác xa với đội quân của Gaius Tarentius Varro ở trận Cannae. Đội quân La Mã không còn là những người nông dân được gọi vào quân đội trong trường hợp khẩn cấp nữa. Marius đã bắt đầu tuyển những người La Mã không có ruộng đất vào đội quân. Công việc duy nhất mà những kị binh của Crassus biết là đi lính.

Những vũ khí của họ có lẽ đã quen thuộc với lính của Varro, nhưng họ không còn dàn trận theo hình bàn cờ với những maniple gồm 120 người nữa. Giờ họ dàn trận theo hình bàn cờ với những maniple được tập hợp vào một cohort gồm 600 người. 10 cohort tạo thành một legion. Crassus có 7 legion – tất cả đều là bộ binh và khoảng 4000 kị binh. Vua của Armenia không hài lòng với sự cai trị của người Parthia, đã gửi cho Crassus 600 kị binh và vài lời khuyên: đừng cố gắng chiến đấu với người Parthia trên đồng bằng, hãy nhử họ vào trong những ngọn núi – nơi mà kị binh của họ sẽ gặp khó khăn. Ông ta giục Crassus xâm chiếm Parthia từ Armenia. Crassus nghĩ vua Armenia chỉ đang cố gắng cải thiện tình hình của ông ta nên Crassus nói ông sẽ đi qua Mesopotamia.

Mắc bẫy

Crassus vượt qua Euphrates, đi vào lãnh thổ Parthia và hành quân dọc theo dòng sông. Những cung thủ cưỡi ngựa người Parthia đã xuất hiện nhưng họ chạy trốn khi kị binh La Mã cố gắng giao chiến với họ. Một người A Rập già tiến lại gần trại và xin được nói chuyện với viên tướng chỉ huy. Một số binh lính từng ở Syria đã nhận ra ông. Họ nói trước đây ông đã cung cấp những thông tin có giá trị cho người La Mã, vì vậy Crassus cho phép người A Rập già đi vào.

Người A Rập này nói: “Nếu ngài muốn chiến đấu, ngài nên nhanh chóng hết sức trước khi nhà vua (của người Parthia) lấy lại tinh thần dũng cảm và tập trung được lực lượng”. Ông ta nói vua Hyrodes của Parthia đang dự định tìm kiếm nơi trú ẩn trên thảo nguyên của Sakas và đã sai Surena với một lực lượng nhỏ đánh lạc hướng người La Mã.

Đó hoàn toàn là một lời nói dối, mặc dù trong đó có một phần sự thật. Surena có một lực lượng nhỏ hơn so với Crassus. Ông ta có 10 000 kị binh, bao gồm 1000 kị binh trang bị vũ khí hạng nặng trong đội cận vệ của ông ta; trong khi Crassus có 40 000 bộ binh và 4000 kị binh. Surena không chỉ huy đội quân chủ lực của người Parthia – đội quân đang xâm lược Armenia. Có vẻ như Hyrodes muốn chư hầu hùng mạnh (và là đối thủ tiềm ẩn của ông) chịu trách nhiệm tiến công quân La Mã. Thậm chí, nếu Crassus chiến thắng, Crassus vẫn sẽ phải đương đầu với lực lượng chính của người Parthia trong khi đội quân của mình đã suy yếu. Để chắc chắn người La Mã mắc mưu, Hyrodes đã sai người A Rập tới gặp họ.

Người A Rập nói với Crassus rằng, cách tốt nhất là nhanh chóng tiêu diệt Surena, sau đó chuyển sang tiến công Hyrodes trước khi ông ta có thể biến mất trên những thảo nguyên vô tận. Người A Rập nọ chỉ cho người La Mã cách tiêu diệt Surena khi kị binh được trang bị vũ khí hạng nhẹ của Surena liên tục lẩn tránh người La Mã.

Vì vậy, Crassus và binh lính đã rời khỏi dòng sông, đi qua những ngọn đồi dọc theo bờ sông và “vào trong vùng đồng bằng rộng lớn, theo một con đường mà lúc đầu thấy thật thú vị và dễ dàng, nhưng sau đó rất khó khăn vì những bãi cát trải dài, không có cây cối, không có nước và cũng không trông thấy điểm kết thúc. Vì vậy họ không chỉ thấy khát, thấy khó khăn khi đi qua, mà còn mất tinh thần với viễn cảnh khó chịu sẽ không có một cành cây, không một dòng suối, một mô đất, cỏ xanh, thực tế một biển cát đã bao vây đội quân với những làn sóng của nó”. Người A Rập bỏ đi, nói với Crassus rằng ông ta sẽ nghĩ cách khiến kẻ thù rối loạn.

Cuối cùng, người La Mã cũng tới một dòng suối nhỏ gần ngôi làng Carrhae. Họ thấy đội quân của Surena ở cách một quãng ngắn. Đội quân đó có vẻ còn nhỏ hơn so với họ dự đoán. Viên tướng người Parthia đã che giấu hầu hết các binh lính của mình ở đằng sau những đụn cát. Họ mặc áo giáp, vì vậy ánh sáng rực rỡ của mặt trời chiếu vào sắt sẽ khiến họ khó chịu. Bất ngờ, hàng trăm chiếc trống đánh vang như sấm. Kị binh Parthia mặc áo giáp lấp lóa dường như chui lên từ mặt đất. Kị binh hạng nặng của họ tiến công người La Mã bằng giáo. Hàng ngũ của quân La Mã vẫn duy trì vững chắc và người Parthia chạy trốn với những cung thủ kị binh đã bắn tên qua vai họ. Người Parthia chạy theo mọi hướng. Sau đó, người La Mã nhận ra rằng những binh lính thảo nguyên đã bao vây họ.

Crassus ra lệnh cho những người lính được trang bị vũ khí hạng nhẹ phản công, nhưng một trận mưa tên đã đẩy lùi họ lại. Những mũi tên của người Parthia có thể xuyên qua khiên và áo giáp của người La Mã. Những cung thủ cưỡi ngựa người Parthia bao vây quân đội La Mã, bắn hạ hàng loạt bộ binh. Kị binh La Mã không thể chiến đấu: người Parthia chạy xa và luôn bắn tên ngược về phía sau họ. Người La Mã chờ những kẻ thù bắn hết tên, nhưng Surena vẫn có một nghìn lạc đà chở đầy những mũi tên.

Con trai của Crassus là Publius, tổ chức một cuộc phản công lớn với 1300 kị binh, 500 cung thủ và 8 cohort. Người Parthia kháng cự, sau đó chạy trốn. Con trai Crassus cho quân đuổi theo. Khi anh ta đã đi quá xa ngoài tầm yểm hộ của đội hình chính, kị binh hạng nặng người Parthia liền tiến công kị binh La Mã. Quân La Mã rút lui và thiết lập một vị trí phòng thủ. Kị binh đánh giáo Parthia vẫn giữ nguyên vị trí, nhưng những cung thủ cưỡi ngựa đã bao vây quân La Mã và bắn hạ họ. Publius bị giết. Người Parthia cắt đầu anh ta, gắn nó vào một cây giáo và chuyển cho đội hìnhchính của La Mã để chế nhạo Crassus.

Khi đêm xuống, người La Mã rút lui. Những binh lính bị phân tán trong bóng tối. Những đơn vị Crassus đích thân chỉ huy bị bao vây. Một số người A Rập tiến đến gần họ với lời nhắn Surena mong muốn có một hội nghị. Crassus chấp nhận, ông hiểu rằng chỉ có thể lựa chọn cái chết hoặc là đầu hàng. Trong một cuộc đàm phán, tranh chấp giữa người La Mã và người Parthia nổ ra. Crassus bị giết và những người La Mã sống sót bị bắt làm nô lệ.

Trận Carrhae
Quân La Mã thảm bại trước đế chế Parthia trong trận Carrhae

Phương Đông và phương Tây

Cái chết của Crassus khiến chỉ còn Caesar và Pompey là đối thủ tranh chấp quyền lực ở La Mã. Trong cuộc nội chiến tiếp theo, Caesar đã thắng Pompey và thiết lập chế độ một người cai trị. Khi Caesar bị ám sát, người thừa kế của ông là Octavius, trở thành Augustus Caesar – hoàng đế đầu tiên của La Mã. Hoàng đế La Mã sẽ cai trị Tây Âu trong gần một nửa thiên niên kỉ và cai trị Đông Âu một thiên niên kỉ rưỡi. Hơn nữa, Tây Âu sẽ bị ám ảnh bởi hàng loạt bóng ma của Đế quốc La Mã, mở đầu với Charlemagne và kết thúc với Napoleon.

Quan trọng hơn, trận Carrhae đã chứng minh sẽ không bao giờ có một Alexander khác. Vị vua Macedonia trẻ đã mang văn hóa Hi Lạp tới Ấn Độ và tới biên giới Trung Quốc. Ở đó, bị tách khỏi những cung thủ trên thảo nguyên, nó đã suy yếu và mất đi. Hàng thế kỷ trước đây, Darius Đại đế đã không chế ngự được Hi Lạp. Nhiều thế kỷ sau, đội quân của Thành Cát Tư Hãn lại thất bại trong việc chinh phục châu Âu. Châu Âu cố gắng chinh phục phương Đông một lần nữa trong những cuộc Thập tự chinh và lại thất bại bởi sự kết hợp nguy hiểm chết người của sa mạc và cung thủ cưỡi ngựa.

Phương Đông gặp phương Tây nhiều lần nhưng không bao giờ liên kết với nhau. Các nền văn minh của thế giới đồng nhất và sự xung đột của phương Đông với phương Tây sẽ là chủ đề thường xuyên lặp lại trong lịch sử thế giới.

William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

Xem thêm:

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây