Trận Cannae, năm 216 tr.CN: Thất bại nặng nề nhất của quân đội La Mã

0
120

Trận Cannae, năm 216 tr.CN giữa người Carthage (Hannibal) với người La Mã (Varro). Với chiến thắng của Hannibal, ông và đội quân của ông đã gây ra thất bại nặng nề nhất đối với quân đội La Mã.

Ước mơ không thành hiện thực

Hannibal có thể chỉ nhìn bằng một mắt, nhưng ông đang nhìn về tương lai. Ông đã hạnh phúc với những gì ông thấy. Ông thấy Italy được giải phóng và chấm dứt sự nỗ lực cai trị thế giới của La Mã. Ông đã thực hiện được điều mà người La Mã cho là không thể. Ông đã đưa một đội quân – bao gồm cả voi chiến – vượt qua dãy Alps và tuyển những người Gaul hung dữ vào đội quân của mình. Ông biết rằng giờ ông đang thực hiện ước mơ của mình.

Từ thơ ấu, Hannibal đã nghe nói về người La Mã – về tính kiêu ngạo, tàn ác của họ, về việc họ đã khoác lác rằng họ sẽ gây chiến với bất cứ nước nào từ chối hôn bàn chân của họ. Khi lớn lên, ông biết họ đã chiến thắng các dân tộc Latin khác, người Etrutria, các thành bang của người Hi Lạp ở Italy và người Italian Gauls. Trong thời của ông, họ cũng đánh nhau với đất nước Carthage của ông. Cha ông là Hamilcar Barca – một vị tướng người Carthage thành công nhất trong cuộc chiến tranh đó. Tuy nhiên, Hamilcar đã không thành công như mong muốn. Người La Mã đã chiến thắng sau cuộc chiến tranh kéo dài 23 năm ròng và buộc người Carthage rời khỏi Sicily. Hamilcar bỏ đi, thề sẽ trả thù. Ông được Hội đồng Nguyên lão của Carthage cử sang Tây Ban Nha và ông đã đưa con trai là Hannibal đi cùng. Ở Tây Ban Nha, Hamilcar đã bắt đầu kế hoạch chinh phục một đế chế mới cho Carthage. Tây Ban Nha có các mỏ bạc do Tây Ban Nha kiểm soát và vùng bờ biển tiếp giáp Bắc Phi, Carthage sở hữu eo biển Gibraltar. Ở bên kia Gibraltar là các mỏ thiếc của Brittany và Anh, và còn ngà voi, vàng của Tây Phi.

Nòng cốt quân đội của Hamilcar là bộ binh châu Phi, được trang bị vũ khí hạng nặng – những người chiến đấu theo kiểu đội hình phalanx[1] của người Macedonia và kị binh Numidia – những người chiến đấu theo kiểu của riêng họ. Những người dân du cư Bắc Phi không sử dụng dây cương, họ điều khiển ngựa đua của mình bằng đầu gối để họ có thể chiến đấu bằng cả hai tay. Vũ khí chính của họ là một cái lao ngắn bằng thép mà họ để trong ống tên mang theo ngựa của họ.

Đội mũ trùm đầu, mặc áo choàng dài xòa xuống và ngồi trên yên ngựa phủ tấm chăn da báo, những người Numidia nhanh nhẹn tiến công làm quân thù kinh sợ. Hamilcar tuyển những người Tây Ban Nha mà ông gặp vào đội quân của mình. Ông biến những người Iberia và Celtiberia văn minh thành kị binh và bộ binh hạng nặng xuất sắc. Những kị binh Tây Ban Nha mặc áo giáp và chiến đấu bằng lao, giáo, và cầm gươm cong ngắn, mặt bên trong sắc. Những người Hi lạp đã làm theo thứ vũ khí này và quân của Alexander Đại đế đã mang nó đến Ấn Độ. Người Gurkha Nepal hiện đại vẫn còn sử dụng một phiên bản của vũ khí này gọi là kukri. Những kị binh Tây Ban Nha mang một thanh kiếm thẳng, dài khoảng 0,6 mét và cả hai cạnh đều rất sắc. Bộ binh Tây Ban Nha thích chiến đấu ở cự li gần, bằng cách sử dụng mũi kiếm sắc nhọn như kim của mình. Lưỡi kiếm của họ được làm bằng loại thép tốt nhất ở châu Âu. Những người Celts man rợ ở miền Bắc Tây Ban Nha đã cung cấp cho Hamilcar cả kị binh và bộ binh. Người Celts coi thường mạng sống của con người, kể cả mạng sống của họ. Khi chiến đấu, họ không mặc áo giáp – thậm chí họ còn không mặc áo – mặc dù vậy họ đội mũ sắt với những chiếc sừng để khiến cho mình trông dữ tợn hơn và cầm theo cái khiên dài. Vũ khí của họ là kiếm dài bằng sắt và một cái lao nặng với mũi lao dài bằng sắt giống như lao của người La Mã. Đối với nhóm bộ binh trang bị vũ khí hạng nhẹ, Hamilcar thường sử dụng các cung thủ và người ném lao, nhưng ông cũng có những người dùng ná bắn đá đến từ quần đảo Balearic – những người được xem là tinh thông loại vũ khí này nhất.

Hamilcar vừa là tướng chỉ huy vừa là Tổng trấn cho Hội đồng Nguyên lão Carthage, nhưng quân đội của ông thực tế đã trở thành quân đội riêng, một lực lượng tự trị. Sau khi ông chết, họ bầu anh rể của Hannibal là Hasdrubal làm tướng chỉ huy. Rồi Hasdrubal bị ám sát, họ bầu Hannibal làm chỉ huy. Khi đó Hannibal 26 tuổi.

Hannibal
Bức tượng bán thân theo kiểu La Mã của Hannibal được tìm thấy tại Capua (Bảo tàng quốc gia). Ảnh: Wikipedia

Người Carthage là những thủy thủ và lái buôn. Việc quân đội Carthage thua trận và mất vùng thuộc địa Sicily không ảnh hưởng nhiều đến công việc kinh doanh của họ, và nhờ Hamilcar, họ đã có được thứ lớn hơn cả vùng lãnh thổ đã mất của họ. Người La Mã – những người chỉ vừa bắt đầu tham gia vào thương mại quốc tế, nhận thấy cạnh tranh với người Carthage thật khó chịu. Vì vậy, họ tìm lí do để loại bỏ người Carthage.

Họ đã tìm được lí do khi Carthage xảy ra tranh chấp với Saguntum – một thành phố của Tây Ban Nha có liên minh với La Mã. Các sứ giả La Mã đến Tây Ban Nha và cấm Hannibal gây chiến trên Saguntum, nhưng Hannibal đã lờ đi. Quân đội của Hannibal không được trang bị để tiến công thành lũy, nhưng sau một cuộc bao vây, ông đã lấy được thành phố này. Vào năm sau, năm 218 trước Công nguyên, các công sứ La Mã đã đến Carthage và yêu cầu giao Hannibal. Đương nhiên là Hội đồng Nguyên lão Carthage đã từ chối. Ngay cả nếu họ muốn bắt Hannibal, họ cũng chẳng có cách nào làm được. Do vậy, La Mã tuyên bố chiến tranh với Carthage.

Hannibal biết chắc người La Mã sẽ đuổi bắt ông, vì vậy ông đã đưa vợ và đứa con trai nhỏ đến Carthage cho an toàn. Nhưng người La Mã cũng có ý định tiến công Carthage. Các gián điệp của Hannibal nói với ông rằng người La Mã đang tập trung một đội quân xâm lược ở Sicily, dưới sự chỉ huy của quan chấp chính tối cao Tiberius Sempronius. Họ cũng đã lập kế hoạch để đưa một đội quân khác, dưới sự chỉ huy của quan chấp chính tối cao thứ hai là Publius Cornelius Scipio, đến nước đồng minh của họ là Massilia (ngày nay là Marseilles). Sau đó, Scipio hành quân bằng đường bộ và sẽ chiến đấu với Hannibal tại Tây Ban Nha. Hannibal hiểu ông phải bảo vệ Carthage. Thay vì quay về châu Phi, ông đã quyết định xâm chiếm Italy. Điều đó sẽ làm cho người La Mã quên đi tất cả các kế hoạch để xâm chiếm châu Phi.

Hannibal biết đó là một việc cực kì mạo hiểm. Nếu ông không thể tiến công ngay cả thành lũy của Saguntum thì làm thế nào ông có thể tiến công Rome – một trong những thành phố lớn nhất của thế giới phương Tây? Cuộc điều tra dân số mới nhất cho thấy Rome có 770 000 người có khả năng cầm vũ khí chiến đấu. Carthage không thể kêu gọi được 1/10 con số đó.

 Carthage không thể có 700 000 người – dù tính cả nam giới, phụ nữ và trẻ sơ sinh trong tất cả các vùng lãnh thổ châu Phi của mình. Latinium đã có hơn 6 triệu người. Nhưng Hannibal nhớ vì hậu quả của cuộc chiến mới nhất với La Mã, Hội đồng Nguyên lão Carthage đã không chịu trả tiền cho lính đánh thuê – những người đã chiến đấu vì họ. Những người lính đánh thuê đã nổi loạn. Sau cuộc chiến tồi tệ đó, các nước châu Phi lệ thuộc vào Carthage cũng nổi dậy. Chỉ có thiên tài của Hamilcar mới cứu được Carthage. Hannibal sẽ bắt đầu cuộc chiến trên lãnh thổ La Mã và khích động các dân tộc lệ thuộc vào La Mã nổi dậy. Điều đó sẽ chấm dứt sự phát triển của đế chế La Mã.

Cuộc hành quân bất khả thi

Người La Mã có nằm mơ cũng không nghĩ rằng Hannibal cố gắng hành quân bằng đường bộ từ Tây Ban Nha sang Italy. Khi Scipio đến Massilia, ông biết rằng Hannibal và đội quân của ông ta không ở Tây Ban Nha. Họ đang ở cách ông 80km về phía bắc và đang hành quân về hướng đông, về phía dãy Alps. Scipio biết ông không thể đuổi kịp một đội quân hành quân nhanh như đội quân của Hannibal. Ông cử phần lớn quân dưới sự chỉ huy của anh trai ông là Gnaeus đi tiêu diệt căn cứ của Hannibal ở Tây Ban Nha, trong khi ông trở về Italy để đón đầu kẻ xâm lăng. Tiến công căn cứ của Hannibal có vẻ giống như chiến lược thông thường.

Điều rắc rối duy nhất là Hannibal không hề có một căn cứ cố định. Hannibal sống lưu vong. Ông tuyển mộ lính khi ông hành quân. Ông nói tiếng vùng Celts  của Tây Ban Nha gần như giống ngôn ngữ của người Gaul – những người sống ở khu vực bây giờ là nước Pháp, dãy Alps và miền bắc Italy. Những người Gaul vừa bị đánh bại bởi người La Mã nên đã hăng hái gia nhập vào quân đội của người Carthage.

Hannibal hi vọng sẽ tuyển được thêm lính mới ở Italy – đó là những người lính giỏi hơn – vì người Gaul là những người man rợ không hiểu được chiến tranh văn minh. Ở Italy, ông hi vọng tuyển được lính người Hi Lạp và  Etrutria – người đã bị La Mã chinh phục – những người văn minh này biết chiến đấu theo kiểu Hi Lạp cổ, kiểu chiến đấu bắt nguồn từ thời vua Philip của Macedon và con trai ông là Alexander Đại đế.

Khi người La Mã  biết Hannibal đã ở Gaul và đang tiến đến dãy Alps, họ bỏ tất cả các kế hoạch về châu Phi và cử Sempronius cùng với đội quân đi về phía bắc để tiêu diệt vị tướng người Carthage này ngay khi ông ta vừa đến Italy – người La Mã cho rằng đội quân của Hannibal sẽ chẳng còn sau khi ông ta vượt qua dãy Alps. Lập tức Scipio đã lên đường.

Vượt qua dãy Alps
Vượt qua dãy Alps. Ảnh: Lịch sử Việt Nam

Vượt qua dãy Alps không dễ, nhưng đội quân Carthage đã làm được. Thời tiết giá lạnh mà phải vượt qua những ngọn núi nguy hiểm nên đã làm chết hầu hết voi chiến của Hannibal và những người ở bộ tộc miền núi đã giết nhiều quân lính của ông. Mặc dù vậy, Hannibal không chỉ đánh bại những người miền núi mà ông còn tuyển họ vào đội quân của mình. Đội quân ban đầu của Hannibal có 12 000 bộ binh châu Phi được trang bị vũ khí hạng nặng, 8000 bộ binh Tây Ban Nha và 6000 kị binh.

Món quà của vị thần chiến tranh

Những người Gaul thuộc Italy nói với Hannibal rằng, quân La Mã là món quà của vị thần chiến tranh cho các bộ lạc ở sông Tiber. Chẳng bao lâu, ông đã có dịp chứng kiến điều đó trong chiến đấu. Publius Cornelius đang tiến đến. Có lẽ Scipio không mong đợi thấy bất cứ người Carthage nào, nhưng ông vẫn sẽ chặn con đường phía nam để đề phòng. Ngoài ra, người Gaul ở phía bắc đã đi liên tục không nghỉ và điều đó đã thể hiện sức mạnh của họ.

Bên bờ sông Tincino đầy sương mù, lần đầu tiên Hannibal thấy đội quân La Mã bày binh bố trận. Ở phía trước họ là hàng rào bộ binh hạng nhẹ, được trang bị lao và ná bắn đá. Đằng sau họ là bộ binh hạng nặng, đội mũ bằng đồng và mặc áo giáp có vảy bằng sắt. Mỗi người mang hai cái lao, một cái nặng và một cái nhẹ. Lao làm từ một cán gỗ dài khoảng 1,2m, gắn vào một thanh sắt dài 0,9m và dày 12mm. Thanh sắt được bịt đầu bằng mũi giáo nhỏ. Lính La Mã ném lao nhẹ xa được khoảng cách 20 bước chân và lao nặng xa được khoảng 10 bước chân. Vũ khí này sẽ đâm thủng những chiếc khiên của quân thù, phần đầu dài bằng sắt sẽ ngăn cho nó khỏi bị chặt đứt. Khi ở cự li gần, người lính có thể giẫm lên cán lao, kéo khiên của kẻ địch xuống và giết kẻ đó bằng một thanh gươm mô phỏng kiểu gươm của bộ binh Tây Ban Nha. Hai hàng đầu tiên của bộ binh La Mã gồm các nhóm tách xa nhau, được gọi là maniples[2]. Maniples của hàng thứ hai kiểm soát không gian trống giữa maniples của hàng đầu tiên. Hệ thống đội hình này giúp một tướng La Mã có thể nhanh chóng tập trung quân của mình trong một khu vực tác chiến hoặc bất cứ nơi nào. Giá trị sử dụng của đội hình này đã được chứng minh nhiều lần, đặc biệt là ở vùng đất nhấp nhô, trong khi chiến đấu với quân thù dùng đội hình phalanx. Để duy trì sự thẳng hàng, đội hình phalanx cần có địa hình bằng phẳng; trong khi đó lính La Mã trong hàng maniples được huấn luyện để chiến đấu độc lập, có thể hoạt động trên bất kì địa hình nào. Sau hai hàng đầu của bộ binh, lính cầm thương (hastati) và lính chủ lực (principes), là một hàng phalanx mang giáo dài truyền thống. Những người lính này được gọi là lính tuyến ba (triarii). Hai hàng đầu tiên là các thanh niên nhanh nhẹn. Hàng lính tuyến ba là những chiến binh kì cựu, không nhanh nhẹn như những người khác, nhưng dày dạn kinh nghiệm bởi qua nhiều chiến trận.

Hannibal đã nghiên cứu tổ chức quân đội của La Mã trong cả cuộc đời mình. Điều làm ông chú ý ngày hôm nay không phải là bộ binh La Mã mà là kị binh. Kị binh của Hannibal chiếm một phần tư đội quân của ông, tất cả bọn họ đã sống trên lưng ngựa. Còn kị binh La Mã chiếm chưa đến một phần mười đội quân của Scipio và những người lính đó không phải cưỡi ngựa mà chỉ cố gắng để ngồi trên ngựa. Hannibal dãn đội hình kị binh châu Phi và Tây Ban Nha cùng với những con voi còn lại. Ngửi phải mùi hơi lạ của voi, những con ngựa của quân La Mã lồng lên. Kị binh Carthage đuổi kịp quân La Mã và tiêu diệt chúng. Trong những người bị thương có cả Consul Publius Cornelius Scipio. Những người Numidia cưỡi ngựa vòng quanh hàng ngũ quân La Mã và tiến công hàng lính tuyến ba từ phía sau. Những chiến binh La Mã kì cựu phải quay lại và giơ ra một hàng giáo vững chắc. Vây quanh vị tướng bị thương, họ di chuyển quay trở lại thành phố kiên cố Placentia. Đêm hôm đó, 2000 quân đồng minh người Gaul trong đội quân La Mã đã chạy sang bên Hannibal. Có vẻ như tất cả những gì mà vị tướng trẻ người Carthage phải làm là chứng minh rằng người La Mã không phải vô địch. Sau đó, các dân tộc bị lệ thuộc vào La Mã sẽ đi theo người giải phóng họ.

Một vị quan chấp chính tối cao khác là Sempronius đã chỉ huy quân của Scipio cũng như quân của mình. Cộng hòa La Mã có hai vị quan chấp chính tối cao giống như tể tướng. Một người (ở đây là Scipio) được bầu từ giới quý tộc; một người khác được bầu từ tầng lớp bình dân. Lúc đó là tháng 12, và các quan chấp chính tối cao sẽ được bầu vào tháng 1 năm sau. Sempronius đã chắc chắn nếu chiến thắng trước những kẻ xâm lược thì đảm bảo ông sẽ được bầu lại. Ông chỉ huy đội quân của mình – 14 000 lính La Mã và 22 000 lính đồng minh – chống lại người Carthage. Sau một cuộc hành quân dài trong cơn bão tuyết, phải lội nước ngập đến cổ qua dòng sông băng giá Trebia, quân La Mã bất ngờ gặp phải đám đông trông như toàn bộ quân Carthage ở sau hào và thành lũy. Những kị binh Tây Ban Nha và châu Phi hung dữ của Hannibal đuổi ngựa La Mã và bắt chúng phải quay lại các bên sườn đội quân La Mã, trong khi bộ binh La Mã đã dừng lại để củng cố hàng ngũ. Vào lúc đỉnh điểm của trận chiến, lực lượng khác của Carthage trước đó ẩn nấp đã ra tiến công quân La Mã từ phía sau. Khoảng 10 000 trong 36 000 quân La Mã đã buộc phải trở lại trại của họ và Sempronius đã không được bầu lại.

Cả hai đội quân đều đi vào mùa đông trong tháng 1 và tháng 2 năm 217 trước Công nguyên. Hannibal ở thung lũng Po, tại đây ông đã tuyển thêm hàng nghìn người Gaul cho đội quân của mình. Hannibal lại di chuyển một lần nữa trong tháng 3 năm 217 trước Công nguyên. Ông đã đi theo hành trình về phía nam mà không một người La Mã nào ngờ tới – vượt qua dãy Apennines lạnh giá và một đầm lầy gây bệnh sốt rét. Ông biết rằng trở ngại tự nhiên nơi không có người ở còn nguy hiểm hơn cả kẻ thù là con người. Ở đầm lầy, lính của ông đã lội nước hành quân trong 4 ngày mà không tìm được một chỗ khô ráo để ngủ. Hannibal mắc bệnh sốt rét, và trận sốt đã làm hỏng một mắt của ông. Tuy nhiên, ông đã đưa đội quân của mình vượt qua tiền đồn của La Mã.

3 chiến thắng lớn của Hannilbal: Trận Trebia, hồ Trasimene và Cannae.
3 chiến thắng lớn của Hannilbal: Trận Trebia, hồ Trasimene và Cannae. Ảnh: Wikipedia

Cuộc phục kích lớn

Hannibal muốn nhử quân La Mã đuổi theo ông. Ông đã đốt các trang trại và những ngôi làng, cướp phá vùng nông thôn và giết dân làng. Điều này có thể khiến một vị quan chấp chính bình thường của La Mã vội vàng đuổi theo ông. Tuy nhiên, quan chấp chính tối cao mới là Gaius Flaminius – một người cầm quyền có nhiều kinh nghiệm đã nắm giữ nhiều chức vị cao,  và là một tướng chỉ huy tài năng đã đánh bại người Gaul. Khi Hannibal đi vòng quanh, Flaminius yêu cầu một vị quan chấp chính khác – một quý tộc Servilius – hành quân về phía nam để chặn người Carthage. Sau đó, Flaminius di chuyển. Ông sẽ bắt Hannibal trong một gọng kìm.

Hannibal biết Flaminius đuổi theo mình. Ông đã dẫn quân đến hồ Trasimeno, một hồ nước nép mình trong những ngọn đồi, chỉ có một dải đất bằng, nhỏ hẹp dọc theo bờ hồ. Khi quân của Flaminius đến bờ hồ Trasimeno, sương mù bao trùm khắp hồ. Đội quân của Flaminius đang xếp thành hàng dài bên cạnh hồ thì một trận mưa lao, tên, đạn đá của người Carthage tiến công họ. Những người lính ở đầu hàng thấy đường của họ bị chặn bởi một đội hình phalanx của bộ binh châu Phi còn kị binh Tây Ban Nha được trang bị vũ khí hạng nặng thì tiến công họ từ phía sau. Những người La Mã ở giữa hàng không thể nhìn thấy kẻ thù đang nắm giữ những ngọn đồi ở phía trên họ. Họ không thể tập trung hay thậm chí dàn kiểu đội hình chiến đấu mà họ đã được huấn luyện. Sau khi đã hạ được nhiều lính của Flaminius, người Carthage tấn công họ từ trên đồi. Trong đội quân 40 000 người, Hannibal đã bắt giữ 15 000 người, bao gồm cả một legion gồm 6000 người đã đầu hàng toàn bộ – một điều không thể tưởng tượng được trong truyền thống La Mã. Phần còn lại đã bị giết, bao gồm cả Flaminius. Hannibal lấy vũ khí và áo giáp của lính La Mã đã chết để trang bị cho quân của mình.

Nhiều liên minh đã tham gia vào đội quân người Carthage. Thay vì tiếp tục đi xuống phía nam để đương đầu với Servilius, Hannibal đưa đội quân của mình quay lại qua dãy Apennines và ra khỏi các vùng đất thấp lầy lội để nghỉ ngơi và hồi phục. Người La Mã đã bầu một quan tổng trấn mới.

Con trai của người đồ tể

Bầu cử một vị quan tổng tài là một việc bất thường nhưng không phải chưa từng thấy trong chính quyền La Mã. Cho tới cuộc bầu cử quan chấp chính tối cao tiếp theo, quan tổng tài có toàn quyền. Hội đồng Nguyên lão, các quan chấp chính và các quan bảo vệ dân không được chống lại ông ta. Nhưng sau khi hết nhiệm kì, ông ta phải chịu trách nhiệm về mọi thứ đã làm. Trong trường hợp này, quan tổng tài là một vị trong hàng ngũ quý tộc  – đó là Quintus Fabius, được gọi là Verrucosus (Người Mụn Cơm). Sau một thời gian ngắn, ông ta được đặt cho một biệt danh mới là Cunctator (Người trì hoãn).

Fabius theo sau Hannibal nhưng giữ một khoảng cách. Ông cố gắng chia rẽ những đảng phái người Carthage đang đánh nhau và nhất định không tham chiến, dù cho Hannibal dùng mọi cách để dụ ông ta vào cuộc chiến. Ông nói mình đang làm Hannibal yếu đi và phá hoại tinh thần chiến đấu của binh lính Carthage. Tuy nhiên, Hannibal đang cướp bóc ở miền trung Italy, cướp đi mọi thứ có thể mang theo và phá hủy những gì còn lại. Bên cạnh đó, Hannibal đang nhận những đề nghị kết thân từ người Hi Lạp và Samnite, cũng như sự hỗ trợ từ người Liguria.

Những người dân bắt đầu rì rầm về “chiến lược trì hoãn”. Một người đàn ông chẳng thèm rì rầm mà hét lên với những lời xúc phạm Fabius. Ông ta tên là Gaius Tarentius Varro, và đề cập đến ông ta cần lưu ý một số điều về các sử gia ở thời “chiến tranh của Hannibal”.

Các tác giả La Mã, bao gồm cả các sử gia, không sống dựa vào tiền hoa hồng từ việc bán sách của họ. Họ là những quý tộc giàu có như Livy, hoặc là người phụ thuộc vào quý tộc La Mã như Polybius – thuộc bè cánh Scipio. Do đó, trong thời kì này ở Cộng hòa La Mã, khi có một quan chấp chính quý tộc hợp sức cùng một quan chấp chính thuộc tầng lớp bình dân thì người quý tộc luôn luôn là những anh hùng và người bình dân là những kẻ ngốc nghếch.

Đối với Flaminius, Livy nói rằng ông ta đã “không có kinh nghiệm về trận đánh và không có khả năng quân sự chút nào”. Nhưng đó chỉ là một lời nói dối. Flaminius là một vị tướng giỏi hơn nhiều so với hai anh em Scipio ngớ ngẩn, Gnaeus và người anh Publius. Trong tất cả các quan chấp chính có nguồn gốc từ tầng lớp bình dân, Gaius Tarentius Varro là người bị các sử gia lăng mạ nhiều nhất. Theo Livy, Varro là người “thiếu thận trọng và dễ cáu”, “kiêu căng” và “mê tín”, chỉ chưa đến mức nói ông ta như “một người điên”. Sự thực, Varro không phải là Flaminius, nhưng cũng không phải là Fabius – người đau buồn vì mụn cơm mà sau này các sử gia gán cho là “Maximus”. Thật không may, nhiều nhà bình luận quân sự hiện đại đã lặp lại những thành kiến cổ đại, có lẽ bởi vì nhiều người trong số họ là quan chức quân sự cấp cao hoặc giao thiệp với những quan chức cấp cao nên họ nghĩ như những người quý tộc.

Hình ảnh của Varro trở nên xấu đi trong con mắt của các tác giả thuộc dòng dõi quý tộc là vì ông ta không chỉ nghi ngờ quyết định của Fabius, mà còn thực sự đã chế nhạo người đứng đầu đáng kính trọng của “chiến lược trì hoãn”. Ông là con trai của một người đóng gói thịt – những kẻ chống đối gọi ông là “đồ tể” để làm trò vui cho tất cả những quý tộc La Mã của họ. Ông đã nghi ngờ liệu có phải Camillus đang dành thời gian lang thang vô mục đích trên những ngọn đồi sau khi người Gaul cướp phá La Mã. Tuy nhiên, Varro và Fabius nhìn Hannibal theo quan điểm hoàn toàn khác nhau. Fabius chắc chắn rằng Hannibal càng ở Italy lâu, xa cách quốc gia của mình, thì Hannibal sẽ càng suy yếu đi. Theo Fabius, Hannibal rõ ràng là một phiền toái, nhưng ông ta không bao giờ có thể chiếm được Rome hay bất cứ thành phố lớn nào, và chẳng thể làm tổn hại bất kì ai ngoại trừ những nông dân và nô lệ. Nhưng với Varro, Hannibal là hiện thân của nạn đói và cái chết. Varro cho rằng, Hannibal lang thang ở nông thôn, đốt các trang trại, cướp bóc các thị trấn và tàn sát nông dân; trong khi Hannibal đã giết người dân của mình mà Fabius chỉ theo sau ông ta để quan sát sự tàn sát. Varro tự hỏi làm thế nào La Mã có thể hi vọng giữ các đồng minh của mình – người La Mã đã hứa bảo vệ họ để họ tuân lệnh – nếu như La Mã không thể bảo vệ người dân của chính mình? Và dù Varro không nói nhưng Hannibal đã gián tiếp làm giàu cho Fabius và những người trong Hội đồng Nguyên lão của ông ta. Những người chủ trang trại nhỏ đã bỏ đất đai, đổ xô về thành Rome, và bán trang trại của mình với giá rẻ mạt. Những người trong Hội đồng Nguyên lão đã mua các trang trại, sáp nhập chúng vào ruộng đất đã rất lớn của họ và cho nô lệ làm việc ở đó.

Ở cuộc bầu cử tiếp theo, Varro được bầu làm quan chấp chính tối cao cùng với Lucius Aemilius Paulus – một quý tộc bảo thủ có nhiều kinh nghiệm quân sự. Rome đã xây dựng một đội quân khổng lồ và thay vì phân chia quân cho các quan chấp chính, họ giữ tập trung thành một đội quân lớn. Các quan chấp chính sẽ chỉ huy luân phiên theo ngày.

Kiệt tác của Hannibal

Cuối cùng, đội quân La Mã và Carthage đã đối mặt nhau, và đó là ngày Varro chỉ huy. La Mã có 86 000 lính, 80 000 bộ binh và 6000 kị binh. Đội quân này đông gấp hơn hai lần đội quân của Hannibal vào ngày 3 tháng 8 năm 216 trước Công nguyên, mặc dù Hannibal có 10 000 kị binh. Quy mô của đội quân La Mã đã gây ra một vấn đề khó khăn. Trong quân đoàn thông thường dàn quân theo bàn cờ (người La Mã gọi nó là quincunx – đội hình nanh sấu gồm 4 góc và 1 trung tâm) thì hàng của quân La Mã sẽ dài đến 3,2km. Gần như không thể kiểm soát hệ thống đó bằng việc dùng tiếng kèn trumpets để truyền lệnh của người chỉ huy. Để rút ngắn hàng, Varro ra lệnh cho các maniple đi sát nhau. Điều này khiến đội quân trông giống như 3 đội hình phalanx. Tuy nhiên, đồng bằng xung quanh làng Cannae là bãi đất rất thích hợp cho một đội hình phalanx. Nhưng hàng quân La Mã vẫn còn dài đến 1,6km. Varro phải dựa vào các chỉ huy cấp dưới. Lucius Aemilius Paulus sẽ lãnh đạo kị binh trang bị vũ khí hạng nặng ở bên phải quân La Mã; hai người trước là quan chấp chính gồm Marcus Atilius và Gnaeus Servilius sẽ dẫn đầu bộ binh và Varro sẽ chỉ huy kị binh trang bị vũ khí hạng nhẹ ở bên trái. Hannibal đã chọn khu đất này. Ông để quân Romans tới chỗ ông. Hướng gió ở phía sau ông, vì vậy bụi của trận chiến sẽ thổi vào mặt quân La Mã, và ánh mặt trời buổi sáng sẽ chiếu vào mắt họ. Bên cánh trái của ông, ở giữa bộ binh và một dòng sông, là kị binh người Tây Ban Nha và Gaul được trang bị vũ khí hạng nặng. Bên cánh phải là một đám kị binh người Numidia. Ở mỗi bên, phía trong kị binh là bộ binh châu Phi trang bị vũ khí hạng nặng, mặc áo giáp của quân La Mã mà họ đã lấy được trong trận chiến trước đó. Mỗi cánh bộ binh đứng trên một đầu của dãy đồi hình chữ V ở đằng sau họ. Trung tâm của bộ binh, chủ yếu là người Gaul, không giữ phần còn lại của các ngọn đồi. Thay vào đó, hàng của họ uốn cong về phía trước, tạo thành một cây cung với phần chính giữa hướng về phía quân La Mã. Những người Gaul để ngực trần, đội mũ sắt gắn sừng và cầm kiếm dài nhìn giống hệt những người man rợ của legion La Mã vừa bị tiêu diệt. Nhưng họ không giống nhau. Hai năm tham gia chiến dịch dưới quyền Hannibal đã biến họ thành những người lính có kỉ luật trong số những bộ binh giàu kinh nghiệm nhất ở Địa Trung Hải.

Trận đánh giữa quân đội Hannibal và La Mã.
Trận đánh giữa quân đội Hannibal và La Mã. Ảnh: Dkn.tv

Quân La Mã xung trận. Khiên với giáo của họ đập vào nhau chan chát. Velites – người ném lao trong đội bộ binh hạng nhẹ và các cung thủ người Sicily tiến lên trước. Hannibal cho những người đảo Balearic dùng ná bắn đá chống lại. Những người ở đảo Balearic mang ba loại ná bắn đá cho cự ly dài, trung bình và ngắn, đeo trên người họ. Họ lúc lắc những chiếc ná bắn đá dài, có thể bắn xa hơn hầu hết cung tên, cho người La Mã thấy một trận mưa đạn chì. Sau đó, các kị binh của họ tiến công. Có lẽ lo sợ một cuộc tiến công bên sườn của người Carthage nên kị binh La Mã hạng nặng đã chen chúc ở giữa bộ binh và dòng sông. Kị binh của Hannibal ném những cây giáo nặng vào quân La Mã, quay đi rồi trở lại ném nhiều lao hơn. Những cây giáo lớn đâm thủng khiên và áo giáp có vảy sắt. Những con ngựa bị giáo đâm ngã xuống hoặc nổi điên, tung vó chồm lên trong hàng ngũ chật ních của quân La Mã. Kị binh La Mã hạng nặng sử dụng giáo thay cho cây lao. Do gắng hết sức để ngồi trên lưng ngựa nên hiếm khi họ có thể đâm được một nhát giáo mạnh. Giữa lúc kị binh tiến công, những người Carthage dùng ná bắn đá bắn liên tiếp. Một viên trúng vào Aemilius Paulus làm ông ta gãy xương. Mất máu quá nhiều, vị quan chấp chính ngã ngựa và chết giữa trận chiến hỗn loạn. Kị binh hạng nặng của La Mã trở nên rối loạn, họ xuống ngựa và cố gắng chiến đấu như bộ binh. Tuy nhiên, họ không phải là lính bộ binh. Họ trở nên một đám vô tổ chức. Những kị binh Celts cũng xuống ngựa. Loại hình chiến đấu mà họ đành phải chọn là một cuộc hỗn chiến bằng gươm. Có nhiều người Celts hơn người La Mã, kị binh hạng nặng của La Mã đã bị tiêu diệt.

Sườn phía bên kia, kị binh lại tiến công kiểu khác.

Đội quân hạng nhẹ mặc áo giáp của Varro, chủ yếu là dân của những nước đồng minh đông hơn dân La Mã, họ có lao nhưng họ không thể tập trung tiến công. Đám đông người Numidia nhanh như gió lốc tiến công họ từ tất cả các hướng. Những kị binh hạng nhẹ của La Mã đã tham gia vào một điệu nhảy trên ngựa do những người dân du cư châu Phi dẫn dắt. Sau đó, một đội 500 người Numidia đã đầu hàng. Quân La Mã tước vũ khí của họ và bắt đầu đưa họ ra phía sau. Nhưng khi đang đi qua trung tâm của kị binh La Mã, những người Numidia rút gươm mà họ đã giấu và chém “kẻ bắt giữ” họ.

Ngay sau đó, kị binh hạng nặng người Carthage tiêu diệt kẻ địch ở bên cánh phải của quân La Mã, họ cưỡi ngựa vòng quanh các legion địch và tiến công lính của Varro từ phía sau. Đội kị binh hạng nhẹ của La Mã hoảng sợ và bỏ chạy về phía sau, đưa cả Varro đi cùng.

Ở trong trung tâm, bộ binh La Mã không biết tất cả những diễn biến đó. Họ tấn công vào giữa hàng quân Carthage, xúm lại để có cơ hội tiêu diệt người Gaul đáng ghét. Người Gaul rút lui dần dần. Chính Hannibal đã chỉ huy họ cùng với anh ông là Mago. Hàng quân Carthage trở nên đều hơn cho đến khi thẳng hàng. Khi người Gaul rút lui, hàng ngũ của họ trở nên dày đặc hơn. Những người châu Phi trong đội hình phalanx trên đồi không rút lui toàn bộ. Quân La Mã tiến lên và người Gaul rút đi xa hơn. Sau đó, họ quay về leo lên dốc ngọn đồi ở phía sau. Sự kháng cự mạnh mẽ hơn. Các đơn vị theo đội hình phalanx người châu Phi xuất hiện từ phía sau những ngọn đồi bắt đầu tiến về hướng trung tâm. Bộ binh La Mã ùa vào một cái bao đang dần khép chặt. Hàng lính cầm thương và lính chủ lực chen chúc sát nhau không thể ném lao của họ. Hàng lính tuyến ba thậm chí không thể hạ giáo của họ thấp xuống.

Lúc đó, kị binh Carthage tiến công từ phía sau. Kị binh của Hannibal nhảy xuống ngựa, rút kiếm của họ và chém vào gân khoeo chân của lính La Mã.

Đến buổi chiều, trận chiến đã kết thúc. Khoảng 70 000 lính La Mã đã thiệt mạng. Quân La Mã đã phải chịu thất bại thảm hại nhất từ trước tới nay.

Chấm dứt ước mơ

Với Cannae, quân đội La Mã đã thất bại thảm hại chưa từng thấy. Hannibal mong đợi gây ra một cuộc tổng khởi nghĩa của các dân tộc lệ thuộc La Mã. Ông chờ đợi các liên minh mới xuất hiện, nhưng chẳng có gì. Thành bang Capua của Hi Lạp mời ông đến đó, nhưng người Capua đã không gia nhập đội quân của ông. Thực tế càng ngày ông càng tuyển được ít quân hơn trước. Hannibal đã gặp rắc rối với nhiều người khác.

Có một người – nhưng không phải là Gaius Tarentius Varro – lãnh đạo quân đội La Mã đã dừng đuổi theo Hannibal, đó là Fabius. Rome đã hi sinh những người đàn ông tài giỏi nhất để giải thoát Italy khỏi kẻ hủy diệt. Tuy thất bại nhưng những liên minh của La Mã biết người La Mã sẽ không bỏ họ. Những liên minh này đã lấy lại niềm tin của họ với thành phố trên bảy ngọn đồi.

Hannibal vẫn ở Italy. Ông đã tiêu diệt thêm 4 đội quân và giết 5 chỉ huy người La Mã. Nhưng ông không thể kích động một cuộc nổi dậy và sau cùng đã suy yếu. Cuối cùng, khi rút quân về châu Phi, ông bị đánh bại bởi một đội quân La Mã dưới sự chỉ huy của một vị tướng mới là Cornelius Publius Scipio – con trai đối thủ trước đây của Hannibal. Scipio trẻ tuổi đã học hỏi nhiều từ các chiến thuật của Hannibal, và về mưu kế thì Scipio xuất sắc hơn vị tướng người Carthage. Scipio đã nỗ lực để chiến thắng vua Numidia cùng với đội kị binh khổng lồ thiện chiến người Numidia. Vào năm 202, gần thị trấn Zama ở Bắc Phi, Scipio đã đánh bại Hannibal trong trận chiến cuối cùng của cuộc chiến tranh. Hannibal trốn thoát để chiến đấu vào ngày khác, nhưng cuộc chiến tranh của Hannibal đã kết thúc.

 Hầu hết những nhà sử học hiện đại nói trận chiến Metaurus vào năm 207 trước Công nguyên mà Caius Claudius Nero đã đánh bại đội quân tiếp viện của Hasdrubal – anh trai Hannibal – là trận chiến quyết định trong cuộc chiến tranh của Hannibal. Tuy nhiên, lực lượng của Hasdrubal vẫn không bổ sung đủ người để bao vây Rome. Và Cannae đã gắn kết lòng trung thành giữa các nước đồng minh của Rome. Sẽ không có cuộc nổi dậy nào cả.

Cannae là trận chiến quyết định trên phương diện khác. Trong hơn 14 năm, Hannibal liên tục tàn phá Italy. Hơn 14 năm, nông dân Latin đã bỏ đất đai của họ và bán nó cho các địa chủ lớn thuộc tầng lớp Hội đồng Nguyên lão. Họ đổ xô đến Rome. Những người dân tị nạn không rõ nguồn gốc đã gây bất ổn cho nước Cộng hòa La Mã vốn cực kì ổn định trước đó. Những nhà quân sự mạo hiểm như Marius, Sulla, Pompey và Julius Caesar đã tuyển mộ nhiều người trong số họ vào đội quân riêng. Cộng hòa La Mã – một nhà nước được điều hành bởi những công dân của mình đã mất đi. Dưới quyền của Augustus Caesar, nó đã trở thành Đế quốc La Mã.

William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

Ghi chú:

[1] Phalanx (Tiếng Hi Lạp) là một đội hình quân sự số đông, hình chữ nhật, thường được tập hợp hoàn toàn từ bộ binh nặng, được vũ trang giáo, kích, hoặc những vũ khí tương tự như vậy. Thuật ngữ này đặc biệt sử dụng cho đội hình chiến tranh Hi Lạp Cổ đại. Từ phalanx được rút từ phalangos (tiếng Hi Lạp), nghĩa là ngón tay.

[2] Maniples: Phân đội chiến thuật Ma Mã cổ đại hồi thế kỷ thứ V trước Công nguyên dưới legion (đến thế kỷ thứ I dưới cohortx), trên century.

Xem thêm: Những trận đánh làm thay đổi lịch sử thế giới

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây