Romain Rolland – nhà văn của sự cảm thông và tình yêu chân lí

0
65

Romain Rolland được trao giải thưởng Nobel văn học năm 1915 nhờ tính lí tưởng cao cả của các tác phẩm văn học, nhờ sự cảm thông và tình yêu chân lí. Tiểu thuyết mười tập Jean Christophe lấy cảm hứng từ cuộc đời của Beethoven mang lại cho R. Rolland danh tiếng thế giới. Nhưng ông được nhân dân tôn vinh nhiều hơn với tư cách người bảo vệ tự do và phẩm giá con người, người chiến sĩ đấu tranh cho một chế độ xã hội công bằng và nhân đạo.

Tiểu sử Romain Rolland

Romain Rolland sinh ra trong một gia đình khá giả, bố là viên chức ngành luật; từ nhỏ ông đã có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông theo học khoa Lịch sử của trường Sư phạm L’Ecole Normale ở Paris; ra trường ông tiếp tục sang Italia học Lịch sử nghệ thuật. Năm 1895, ông bảo vệ hai luận án tiến sĩ về đề tài Lịch sử nghệ thuật, sau đó dạy lịch sử hội họa tại trường Sư phạm L’Ecole Normale và phụ trách bộ môn Lí thuyết âm nhạc tại Đại học Sorbonne. Năm 1897, R. Rolland in tác phẩm Thánh Louis khiến dư luận chú ý, mở một lối đi riêng trong văn chương, quan tâm đến các vấn đề xã hội chủ nghĩa và cách mạng.

Thế chiến I bùng nổ, ông chuyển đến sống tại Thụy Sĩ, làm việc cho tổ chức Hồng Thập tự, viết nhiều tiểu luận lên án cuộc chiến tranh phi nghĩa này, về sau tập hợp thành sách Bên trên cuộc chiến (1915).

 Tác phẩm nổi tiếng nhất của R. Rolland là trường thiên tiểu thuyết Jean Christophe (10 tập, xuất bản trong khoảng thời gian  từ 1904-1912). Đây là tác phẩm mang tính tự truyện, trình bày mọi vấn đề liên quan đến chính trị, văn học và nghệ thuật đồng thời  là tác phẩm mang lại cho ông Giải Nobel năm 1915. Tập thứ mười của bộ tiểu thuyết – nhan đề Ngày mới (Nouvelle journée) cũng nhận được giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp.

Trong sáng tác của mình, Romain Rolland thường phân chia các tác phẩm theo từng nhóm đề tài được ông theo đuổi trong nhiều năm, có khi cho tới cuối đời. Chẳng hạn như nhóm tác phẩm Bi kịch đức tin (Les tragédies de la foi) gồm ba vở kịch Thánh Louis (1897), Aert (1898) và Chiến thắng của lí trí (1899); nhóm tác phẩm Sân khấu Cách mạng (Théâtre de la revolution) gồm những tác phẩm viết về Cách mạng Pháp và kết thúc bằng vở kịch Robespierre (1939)…

Năm 1915, Viện Hàn lâm Thụy Điển quyết định dành  giải thưởng Nobel cho Romain Rolland nhưng năm sau giải mới được trao vì vụ bê bối xảy ra xung quanh những bài báo chống chiến tranh quyết liệt của ông trong năm đó. Cũng vì chiến tranh, lễ trao giải đã không được tổ chức và Romain Rolland không đọc diễn từ.

Romain Rolland là nhà văn chuộng hòa bình, suốt đời đấu tranh chống bạo lực và chủ nghĩa phát xít. Điều này được thể hiện qua các tác phẩm văn học, báo chí, khảo cứu của ông và in dấu vào lịch sử văn học Pháp cũng như văn học thế giới. Ông mất năm 1944 vì bệnh lao mắc từ nhỏ, khi đó nước Pháp vừa được giải phóng và Thế chiến II vẫn chưa kết thúc.

Tác phẩm của Romain Rolland:

– Nguồn gốc nhạc kịch trữ tình hiện đại (Les Origines du théâtre lyrique moderne, 1895), luận án tiến sĩ, đoạt giải thưởng Viện Hàn lâm Pháp.

– Vụ án cuối cùng của Louis de Berquin (Le dernier procès de Louis de Berquin, 1892), biên khảo về lịch sử.

Nhóm kịch Bi kịch đức tin (Les trégedies de la foi) gồm Thánh Louis (1897), Aert (1898) và Chiến thắng của lí trí (Le triomphe de la raison, 1899).

– Bầy sói (Les loups, 1898), kịch [The Wolves].

– Những kẻ chiến bại (Les vaincus, 1898, in 1922), kịch.

– Danton (1900), kịch.

– Ngày 14/7 (Le 14 Juillet, 1902), kịch.

– Sân khấu quần chúng (Le théâtre du peuple, 1900-1903), tiểu luận [The People’s Theatre].

– Thời gian sẽ tới (Le temps viendra, 1903), kịch [The Time Will Come].

– Cuộc đời Beethoven (Vie de Beethoven, 1903), truyện kí.

– Cuộc đời Michelangelo (Vie de Michel-Ange, 1905), truyện kí.

– Jean – Christophe (1904-1912, 10 tập), tiểu thuyết.

– Nhạc sĩ thời xưa (Musiciens d’autrefois, 1908), phê bình âm nhạc [Some Musicians of Former Day].

– Nhạc sĩ thời nay (Musiciens d’aujourd’hui, 1908), phê bình âm nhạc [Musicians of Today].

– Sân khấu cách mạng (Théâtre de la révolution, 1909), kịch.

– Cuộc đời Tolstoi (Vie de Tolstoi, 1911), truyện kí.

– Phía trên trận chiến (Au dessus de la mêlée, 1915), tập hợp các bài đăng trên báo [Above the Battle].

– Colas Breugnon (1918), tiểu thuyết.

– Liluli (1919), hài kịch.

– Những bậc tiền bối (Les précurseurs, 1919), tiểu thuyết [The Forerunners].

– Tuyên ngôn độc lập của tinh thần (Déclaration d’independence de l’esprit, 1919), kí.

– Clerambault: câu chuyện một người có lương tâm trong cuộc chiến (Clerambault: histoire d’une conscience libre pendant la guerre, 1920), tiểu thuyết.

– Pierre và Luce (Pierre et Luce, 1920), truyện vừa.

– Mahatma Gandhi (1923), truyện kí.

– Trò đùa giữa tình yêu và cái chết (Le jeu de l’amour et de la mort, 1925), kịch [The Game of Love and Death].

– Chủ nhật trước lễ Phục Sinh (Pâques – fleuries, 1926), kịch.

– Les Leonides (1927), kịch.

– Beethoven, nhà sáng tạo (Beethoven: les grandes époques créatrices, 1928-1944), sách nghiên cứu, nhiều tập [Beethoven, the Creator].

Các vị tiên tri của nước Ấn Độ mới (Essai sur la mystique et l’action de L’Inde vivante, 1929-1930), nghiên cứu [Prophets of the New India].

– Tâm hồn say đắm (L’âme enchantée, 1922-1933), tiểu thuyết [The Soul Enchanted].

– Mười lăm năm đấu tranh (Quinze ans de combat, 1935), tiểu luận báo chí.

– Hòa bình qua cách mạng (Par la révolution la paix, 1935), tiểu luận báo chí.

– Những người đồng hành (Compagnons de route, 1936), tiểu luận báo chí.

– Robespierre (1939), kịch.

– Cuộc du hành nội tâm (Le voyage intérieur, 1942), tự truyện.

– Những kỉ niệm về Richard Strauss (Souvenirs sur Richard Strauss, 1945), nghiên cứu.

– Vòng quanh thế giới (Le périple, 1946), tự truyện.

– Péguy (1944), truyện kí.

Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:

– Lòng bác ái, lịch sử ông thánh Gandhi (nghiên cứu, tiểu luận), Yên Sơn dịch, Gia Định – Đông Pháp, 1929.

– Jăng – Krixtốp (tiểu thuyết), Nguyễn Xuân Huy – Tảo Trang – Trần Hữu Mai dịch, Nxb Văn học, 1976 – 1978.

– Ma-hat-ma Găng-đi (truyện danh nhân), Trần Đỉnh biên dịch, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2000.

(Nguồn: http://nobelprize.org)

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây