Nội hàm sâu xa của chữ NHÂN [人] trong văn hóa Thần truyền

247

Hầu như những người không hề quan tâm tới chữ Thánh Hiền khi nhìn hai nét vẽ của chữ NHÂN – 人ai cũng nhận diện ra nó. Và chữ NHÂN – 人 mặc dù chỉ có 2 nét giản dị nhưng nội hàm của nó chẳng giản đơn chút nào.

Còn nhớ, ngày xưa học trường làng, gắn với những buổi mò cua bắt ốc, bọn trẻ chúng tôi, tay lấm lem nứt nẻ đen thủi đen thui tập viết a,b,c…Nhưng ai cũng vọc vạch viết được vài chữ Nho. Hiển nhiên, chữ Nhân là chữ phổ biến.

Có lẽ tần số xuất hiện tiếng NHÂN trong ngôn ngữ Việt (đặc biệt  là từ ghép Hán- Việt)  dày đặc, cho nên khi lên cấp ba, rồi Đại học để ghi chép được nhanh nhất có thể, chúng ta đã viết chữ Nhân hai nét này thay cho chữ quốc ngữ có đến 8 ký hiệu (tạm thời coi là 8 thao tác: N,G,U,O,I,+ 2 dấu hỏi +dấu sắc).

Thậm chí, biến thể của tiếng Nhân được viết bằng quốc ngữ này khá sinh động. Khi viết “Nhân dân, nhân ái, nguyên nhân” các cô cậu học trò vạch viết chữ Nhân hai nét đã đành. Khi viết Nhẫn, Nhận, Nhần, Nhấn chúng chỉ cần thêm dấu cho chữ NHÂN tượng hình.

Phổ biến nhất, chữ NHÂN này thay cho chữ NGƯỜI vốn viết mất nhiều thời gian hơn trong các buổi nghe giảng mà học sinh cần ghi với tốc độ nhanh .

Thực ra, thời xưa, khi còn tóc trái đào, những đứa trẻ đưa đến nhà cụ Đồ để học chữ Thánh Hiền thì cái chữ đầu tiên là NHÂN. Bởi, cuốn Giáo khoa thư đầu tiên là Tam Tự Kinh. Và mở đầu cuốn Kinh ấy là 6 chữ như một mệnh đề đi hết cuộc đời con người: NHÂN CHI SƠ, TÍNH BẢN THIỆN.

Chữ Nhân trong văn hóa xưa

Khi tìm về cội nguồn của chữ NHÂN, hình tượng mà ta nhìn thấy ban đầu là hình vẽ rất trực quan. Đó là một người đang đứng, hai tay đưa ra phía trước rất giống nhau. Qua bao nhiêu lần cách điệu, để rồi đi tới cái chữ hôm nay.

Khi nhỏ, ngoại của tôi giảng rằng: Ban đầu, chữ này là hình vẽ một con người với rất nhiều thứ mang theo: có y phục, có túi da, có giáo mác… Dần dần, thấy quá luộm thuộm và khó vẽ, khó viết; vả lại ảnh hưởng của quan niệm Đạo, Phật là buông bỏ. Con người đến thế gian và ra khỏi thế gian đều trần trụi. Chỉ có hai chủng Đức và Nghiệp là gắn bó với tiến trình dằng dặc của những chặng luân hồi trong hành trình nhân sinh.

Từ một hình vẽ khá phức tạp gắn với những ngoại vật mang theo, chữ Nhân đã thành chữ ĐẠI, biểu hiện của một linh vật to lớn, chúa tể của muôn loài…

Chữ  Đại vốn là hình vẽ con người đứng ở tư thế giang rộng tay chân, tung hoành trong trời đất.

Chữ Đại ấy giờ vẫn tồn tại. Nhưng chữ Nhân đã định hình lại khiêm cung hơn, giản dị hơn mà chứa đựng nội hàm lớn hơn. Có thể thấy chữ Đại khi xếp hai tay lại, đầu thẳng thì ra chữ NHÂN.

Thử tìm hiểu trong tiếng Hán, có một số chữ chỉ tồn tại 2 nét thôi.

Trong hệ số đếm gồm 10 chữ thì: NHỊ, THẤT, BÁT, CỬU, THẬP( [二] nhị, [七] thất, [八] bát, [九] cửu, [十] thập) chỉ có hai nét. Có phải ngẫu nhiên chăng? Đề tài về các con số sẽ gắn vào các biểu tượng văn hóa thú vị. Nhưng biểu tượng con số gắn với 2 nét vẽ của chữ Thánh Hiền hẳn nhiên còn uyên áo và nhiều bí mật.

Ở đây, tôi tự lấy một cách ngẫu nhiên những chữ 2 nét và muốn mọi người cùng cảm nhận nó. Chẳng hạn chữ:

*HỰU [又] nghĩa là: Lại, nữa, thêm (nhiều lần).

*LỰC [力] Nghĩa là: Chỉ chung tác dụng hoặc hiệu năng của sự vật; hoặc tài năng, khả năng.

*LIỄU [了] Nghĩa  là: Xong.

Nhìn những chữ này, ta có cảm nhận ý nghĩa của chúng thông qua tiết điệu. Chữ HỰU như bước chân phải nâng lên vuông góc ở đầu gối, đặt xuống vững chắc trên mặt đất, sau đó mới rắn rỏi nâng bước chân còn lại.

Sự thêm vào, sự quay lại ở đây không vội vàng, hấp tấp. Có sự đắn đo nhưng sau đó là quyết định dứt khoát.

Chữ LỰC lại là sự ngược lại về tiết điệu so với chữ HỰU: Một dấu phẩy rất mạnh mẽ quyết liệt, sau đó là sự trì kéo  để tiếp tục cho một đợt gia tăng năng lượng mới.

Chữ LIỄU lại gợi cho ta một hoạt động theo chiều dọc. Nét trên đưa ra rồi quay lại theo chiều thẳng đứng. Sau đó là một nét xuống với cái hất lên rất nhẹ phía bên trái, biểu hiện sự vật sau khi lay động, giằng co dễ hư nát đã hạ xuống và kết thúc êm đẹp không bị biến hình.

Cần nói thêm, chữ LIỄU này chỉ cần tự nhiên đưa nét bút vẽ nét thứ ba theo chiều ngang thì nó thành chữ TỬ [子] nghĩa  là đứa con, là một linh vật vĩ đại ra đời. Chữ TỬ vì thế còn có nghĩa là người Thầy có Đức Hạnh cao cả! Ta có lẽ suy ngẫm  nguyên lý “Một sinh Hai, Hai sinh Ba, Ba sinh vạn vật” của Lão Tử từ chữ LIỄU và chữ TỬ này sẽ thấy thêm nhiều cảm nhận mới.

Nguồn gốc chữ “nhân”
Nguồn gốc chữ “nhân”

Dường như khi cầm bút viết chữ NHÂN, ta nhận được những giá trị của những chữ mà ta vừa phân tích. Nó có HỰU, có LỰC, có LIỄU  và xa xôi hơn có cả TỬ. Về điều này, trên báo Đại Kỷ Nguyên đã có một bài viết nói về 9 điều  tương đối thú vị về nội hàm của chữ NHÂN. Tôi chỉ lược lại một số ý chính:

(1). Một nét biểu thị sự phát triển, một nét biểu thị cho sự già yếu.

(2). Một nét biểu thị cho sự tiến lên, một nét biểu thị cho sự thoái lùi.

chữ Nhân
Đời người tựa như leo núi, từng bước từng bước hướng lên mà leo. Nhưng khi đã lên đến đỉnh núi thì lại từng bước từng bước hướng xuống. Ảnh: Tân Sinh.

(3). Một nét biểu thị cho niềm vui, một nét biểu thị cho phiền não.

(4). Một nét là thuận cảnh, một nét là nghịch cảnh.

(5). Một nét là trả giá, một nét là thu hoạch.

(6). Một nét là quyền lợi, một nét là trách nhiệm.

(7). Một nét là bản thân, một nét là người yêu thương.

(8). Một nét là bạn bè, một nét là đối thủ.

Ở đây, cũng cần nhắc lại một câu nói của Bill Gates (đại ý): Tôi cần có đối thủ chứ không bao giờ muốn có địch thủ.

(9). Một nét là nửa đời trước, một nét là nửa đời sau.

Trong cách nói nhân quả nhãn tiền, người ta thường nói đến mối quan hệ gieo Nguyên Nhân nửa đời trước và thu hoạch Kết Quả nửa đời sau.

Thực ra, nếu nới rộng tiến trình dài dằng dặc của kiếp luân hồi thì kiếp trước và kiếp sau là có quan hệ rất trực tiếp.

Nhân đây cũng nói thêm về một chữ NHÂN [仁] mà chúng ta dùng rất phổ biến. Nó có nghĩa là: Thương, yêu; khoan dung, đức hạnh. Nguyễn Trãi cũng từng viết: “Việc Nhân Nghĩa cốt ở yên dân” hoặc “Lấy chí NHÂN để thay cường bạo“.

Chữ  Nhân gồm có Nhân là Người và Nhị là Hai. Hai người là đơn vị đầu tiên cho việc xác định có thương yêu khoan dung với nhau không. Đây là quan hệ xã hội tối thiểu để biết là người hay là động vật hai chân. Hai nét trong chữ Nhân cho ta liên hệ đến rất nhiều điều bổ ích.

Chữ Nhân gắn với văn hóa tu Phật

Để chữ NHÂN này vào những chữ hai nét mà ta vừa bàn tới ở trên, thì chữ NHÂN có cấu trúc cân đối và hài hòa nhất. Bất  cứ ai biết chút ít về văn hóa Tu Luyện thì không thể không biết đến thế của hai tay úp vào nhau như hình búp sen với hai cẳng tay thành hình chữ Nhất trước ngực. Người theo Đạo Gia hoặc Phật Gia gọi gọn đó là tư thế HỢP THẬP, còn nói đầy đủ là SONG THỦ HỢP THẬP. Nếu ai đi chùa, đi nhà thờ hoặc dự các đám giỗ, các đám ma chay thì sẽ gặp mọi người có thế hợp thập này. Hiển nhiên, khi chắp tay như vậy thì tâm thái, hành động của con người không thể thiếu nghiêm túc. Hợp Thập là một cử chỉ, một hành vi kính ngưỡng. Nó là một phong tục, một cử chỉ mang tính văn hóa của nhân loại. Không chỉ phương Đông mà cả phương Tây; không chỉ người tín phụng Phật mà là cả người tín phụng Chúa…

Chữ NHÂN rất giống với tư thế HỢP THẬP của con người. Phải chăng đây chính là nội hàm sâu xa nhất của chữ Nhân?

Tu luyện Pháp Luân Công
Hợp thập trong tu luyện Pháp Luân Công

Ít nhất là trên 2500 năm, khi Thích Ca Mâu Ni hạ thế độ nhân, loài người đã một thời tỉnh mê biết rằng có những sinh mệnh cao tầng đang bảo hộ họ. Thậm chí, đức Phật còn hé lộ cho chúng ta biết rằng Ngài khác chúng ta có một chữ Mê và Tỉnh mà thôi.  Bất cứ con người nào dưới thế gian này đều có thể thành Phật nếu như họ nhìn được chân tướng của vũ trụ, thời – không và bí mật của sinh mệnh chính mình.

Phật nói mình là vị Phật đã thành, còn chúng nhân tu luyện là Phật sẽ thành. Vậy nên, trong Phật Giáo mới có hai tiếng Phật Tử. TỬ ở đây là Ông, là Ngài, là Giác Giả Đức hạnh chứ không phải là Con như cách hiểu lệch lạc của một số người!

Nếu chúng ta quan sát chữ PHẬT [佛] thì sẽ thấy chữ bên trái là chữ Nhân đứng. Phật cũng là Người. Nhưng là sinh mệnh ở cao tầng hơn. Nhìn theo hướng thuận nghịch thì: Những sinh mệnh nào ở cao tầng nếu không đạt, không tương thích với tiêu chuẩn của cảnh giới mình đang sống thì sẽ bị rớt xuống tầng dưới. Nếu rớt xuống đến tầng nhân loại thì con người phải sống trong Pháp lý của tầng này. Chẳng  hạn chúng ta coi sinh, lão, bệnh, tử là điều không ai tránh được. Chúng ta có cái nhục thân này thì nóng hoặc lạnh quá đều khó chịu; đói, khát đều làm cho ta suy kiệt; chúng ta suốt một đời quần quật tranh giành nhau chỉ vì miếng ăn để rồi bệnh hoạn và cái chết…

Hãy tưởng tượng có một cảnh giới khác, họ sống với một hệ giá trị hoàn toàn khác… Họ nhìn con người thật tội nghiệp và mê mờ quá độ. Con người không có khả năng biết được những sinh mệnh ở trên mình. Do đó Thích Ca Mâu Ni gọi chung thế giới trần gian là cõi Mê. Nếu ai Ngộ được, tin những điều Phật dạy là chân tướng thì họ sẽ trở thành người tu luyện. Không cứ phải thành tu sỹ, ni cô, vào chùa mới là tu. Phật Thích Ca nói rằng có 8 vạn, 4 ngàn con đường để đi ngược lại nơi mình đã rớt xuống. Như vậy, Người sẽ trở thành thành Thần, thành Phật.

Đương thời, Thích Ca Mâu Ni có những triển hiện vượt khỏi tầm người thường nhận thức. Nhưng ông chỉ nói mình là một Người Tỉnh Thức, là Giác Giả không Mê như người thường giành nhau 3 chữ Danh, Lợi, Tình để Sinh, Lão, Bệnh, Tử rồi chuyển sinh, chuyển kiếp, ngụp lặn trong luân hồi.

Hiện nay, số người đi theo pháp môn tu luyện Phật Gia là không ít. Rất nhiều người tu luyện chân chính có thể nhìn được nhiều thế giới khác nhau trong cảnh giới khác nhau. Vì thời gian, không gian khác nên các thể Sinh Mệnh cao tầng cũng khác nơi thế gian con người. Nói nôm na là họ Đẹp hơn, trí huệ siêu việt hơn. Họ hoàn hảo hơn chúng ta!

Như vậy giữa Thần, Phật và con người chỉ có khác nhau chữ Tỉnh và Mê; khác nhau là ở những thời – không, cảnh giới đặc định. Người nếu “phản bổn quy chân” thì sẽ trở về Thần. Ngược lại, Thần không đủ tiêu chuẩn thì sẽ rớt xuống cõi Mê làm người!

Quan hệ giữa chữ Thần và chữ Nhân

Theo dõi hệ thống phát triển của 2 chữ Thần và Nhân chúng ta cũng thấy có những mối quan hệ nội hàm thâm sâu.

Chẳng hạn, chữ Thần phát triển đến chữ Tiểu triện thì sẽ là hình tượng của hai bàn tay dựng thẳng đứng, biểu hiện cho quyền lực nắm giữ tất cả, chi phối tất cả.

Trong thần thoại Hy Lạp, vị thần chúa tể đỉnh Olympus là Zeus đầy quyền uy. Ngoài biểu tượng Đại Bàng, cây Sồi, con Bò thì khi hiện nguyên hình ,Ông luôn là một người đàn ông uy nghi, luôn dùng hai bàn tay ở thế song song úp lại rồi phóng sấm sét về phía mà Ông muốn hủy diệt.

Chữ Thần là hai tay chắp/kẹp thành đường thẳng. Thần cũng có Tay, có hình sắc giống người

Từ chữ Tiểu triện xác nhận Thần vốn là Người đã Tỉnh thức, sau đó, phát triển thêm một bước nữa thì Thần là đồ hình Thái Cực của Âm Dương. Cần nhắc lại: chúng ta chú ý hai bàn tay nhé. Thần và Người đều có Tay. Và chữ/bộ THỦ (tay) là biểu tượng cho những gì thuộc về hành động, hành vi rất phổ biến trong chữ Hán.

Không chỉ những người theo Phật Gia tu Phật thì sẽ thành Phật mà có một trường phái tu luyện rất phổ biến thời cổ xưa là theo Đạo Gia. Khi viên mãn, người tu luyện được gọi là Tiên.Chữ này cũng có chữ NHÂN đứng bên trái, cạnh chữ Sơn  [仙]. Đạo Gia còn có cách gọi người đã đắc Đạo là CHÂN NHÂN 真人. Ta chú ý chữ Chân nghĩa là người chính trực. Trên là chữ TRỰC dưới là chữ NHÂN.

Như vậy, nói lại một lần nữa, người xưa coi con người là anh linh trân quý nhất trong Tam Giới. Người và Thần có liên thông và có khả năng hoán chuyển.

Đây cũng là lý do người ta viết chữ Đại với hình vẽ “tả chân” rất chính xác. Đó là  người  đang ở trong tư thế tứ chi được giang rộng. Cũng cần nhắc thêm, có một chữ Nhân trong từ “nguyên nhân, nhân quả, hạt nhân” với nghĩa là cái bắt đầu để rồi phát triển đi đến kết quả. Chữ này mô tả một người nằm trên chiếc chiếu rất ngay chính, ngay ngắn,  giang cả tay lẫn chân. Nó gồm chữ Đại ở trong và chữ Vi ở ngoài [因]. Như  vậy, trong từ điển có 19 chữ Nhân đồng âm khác nghĩa thì có 3 chữ Nhân rất phổ biến. Chúng đều có chữ Nhân là người làm hạt nhân [人] (nhân dân)  [仁] (nhân ái)  [因] (nhân quả).

Chữ Nhân
Chữ Nhân trong “Nguyên nhân” (trái) và Chữ Nhân trong “nhân ái” (phải)

Cả Đạo Gia lẫn Phật Gia đều cho rằng chỉ có mang Thân người thì mới được Tu luyện. Hàng ngàn năm luân hồi mới được kiếp người, nếu không tu luyện thì thật đáng tiếc. Bởi, động vật không được tu luyện là quy định của Thiên Thượng!

Ta có thể kể thêm một số chữ như KIỀU là người con gái đẹp; HIỆP trong Hiệp Khách, Hào Hiệp; TĂNG là người tu hành… Tất  cả đều có chữ/ bộ  NHÂN ĐỨNG đi kèm theo…

Nếu chữ NHÂN đứng một mình với tư cách con chữ độc lập, nó gợi cho ta tư thế SONG THỦ HỢP THẬP. Đã là con người thì phải biết khiêm nhường và cung kính với Thần Kinh. Trong hình vẽ chữ NHÂN nguyên sơ ta thấy hình của một người đang đưa tay ra phía trước. Tại sao không lựa chọn một hình dạng khác mà phải là đưa tay ra? Kết hợp với chữ NHÂN đã định hình trong từ điển, ta thấy đây chỉ có thể là sự cung kính với những sinh mệnh đang bảo hộ mình!

Chữ NHÂN khi nó kết hợp với các chữ khác thường là ta viết bộ NHÂN ĐỨNG.

Hình chữ Nhân Đứng rất giống với hình người khiêm cung cúi  thấp người, tỏ lòng biết ơn.
Hình chữ Nhân Đứng rất giống với hình người khiêm cung cúi  thấp người, tỏ lòng biết ơn.

Quan sát chữ NHÂN ĐỨNG chúng ta dễ liên tưởng tới dáng đứng yên lặng ẩn nhẫn cúi đầu khom lưng để lắng nghe hoặc biểu thị sự kính trọng với người bề trên, đặc biệt là với Thần Linh. Có thể nhìn thấy phong tục, phong cách này ở người Nhật hiện nay. Nếu ai nhìn những tấm hình có các nguyên thủ Nhật tiếp xúc với người khác sẽ thấy điều này!  Cách đây không lâu có một bức ảnh của thủ tướng Nhật cúi đầu trước các bô lão để thăm hỏi về thiên tai. Người khom mình cúi đầu không nhỏ bé mà trở nên đáng kính trước khán giả. Cũng cần lưu ý về cái cúi đầu nổi tiếng này của ông Thủ Tướng Đức sau thế chiến Hai đến thăm Ba Lan. Cái cúi đầu này đã hàn gắn châu Âu sau đổ nát!

Tôi có làm một bài thơ về cái cúi đầu này. Đó là sức mạnh của chữ Nhân, là Thần Thánh ngay giữa đời thường.

QUỲ

(Viết về thủ tướng Đức Willy Brandt)

Thế chiến Hai kết thúc

Kẻ thắng trận đau nhức

Kẻ thua trận bị nhục

Cả hai cùng ấm ức

Cả hai cùng khổ đau

Họ đeo những kính màu

Nhìn thấy Mê, không thực

Những vết thương quá khứ

Dễ gì khép lại sau

Mối thù Đức Quốc Xã

Vẫn di căn rất lâu.

Nuớc Ba Lan hùng mạnh

Đã tan nát từ đầu

Phi cơ rồi tăng Đức

Tràn lãnh thổ rầy Nâu

Trên đất nước yên bình

Những lò thiêu hiện đại

Lùa hàng triệu sinh linh,

Cuồn cuộn người Do Thái

Trời Ba Lan đặc khói

Đen kịt khét thịt người

Đống tro tàn chết chóc

Ám lịch sử không thôi

Rồi một ngày đẹp trời

Thủ tướng Đức sang thăm

Dân Ba Lan phẫn nộ

Triệu nhân triệu hờn căm

Đi đâu cũng được chưởi

Đến đâu cũng bị khinh

Nếu không lính bảo vệ

Brandt khó giữ mình

Ông đến trại tập trung

Một lựa chọn đáng sợ

Hàng vạn lời phẫn nộ

Ông vẫn lặng cúi đầu

Ông đứng đó nguyện cầu

Trơ trơ như Từ Hải

Rồi khụy xuống cúi đầu

Lời ăn năn lặng lại

Thay mặt dân tộc Đức

Xin lỗi người bị hại

Sám hối rất thực lòng

Trước Ba Lan,Do Thái

Cái quỳ lạy của ông

Là hành vi vĩ đại

Nối kết cả cộng đồng

Kéo da non vết thương

Châu Âu lành sẹo lại

Cái hành động quỳ lạy

Như năng lượng mặt trời

Thắp hoa lá,cỏ cây

Rạo rực bơm nhựa sống

Ươm những mầm xanh tươi

Chỉ cần việc ấy thôi

Ông được giải Nobel

Tín nhiệm cao tuyệt đối

Toàn dân Đức ngợi khen

Một nhiệm kỳ nữa tới

Như là điều tất nhiên.

Nếu nói về cái cúi đầu làm nên chữ Nhân, xác nhận sự tôn trọng, tôn kính những sinh mệnh cao tầng thì ta nên quay lại với bài thơ TĨNH DẠ TƯ dường như ai cũng biết của Lý Bạch:

Đầu giường mảnh trăng sáng,

Ngỡ mặt đất đẫm sương.

Ngẩng đầu, ngắm trăng sáng,

CÚI ĐẦU nhớ cố hương.

Nếu ta hiểu “cố hương” của nhà thơ theo Đạo Gia này là xứ Tiên ngày xưa mình từng ở thì cái cúi đầu này không đơn giản là nỗi nhớ quê tầm thường!

Làm người thì dễ, làm Nhân khó lắm thay!

Trước đây, có người từng nói một cách bí hiểm: Làm Nhân là khó, còn làm người thì dễ. Họ giải thích: chữ Nhân được đánh vần thành NHỜ ÂN.

Đúng thế, con người sống trong những mối quan hệ chằng chịt và trở thành một cộng đồng quá rắc rối. Càng ngày, con người càng tự tin và kiêu ngạo. Thực ra, nếu biết rằng có Thần Linh, biết Kính Sợ Thần Linh thì con người sẽ khiêm tốn, khiêm cung, khiêm nhường với thế giới quanh mình nhiều hơn. Biết Nhờ Ân mới có những Phúc Đức trong đời.

Chữ NGƯỜI đã từng được nhà thơ Việt Phương chiết tự thành NƠI ..GỪ (gầm gừ). Có  người đọc thành NGỜ.. ƯƠI và phiếm đàm rằng:

“Mới quen cứ tưởng con người,

NGỜ đâu lại biết đười ƯƠI trên ngàn!”

Con người nếu sống trong Mê, coi những giả tướng Danh, Lợi, Tình là giá trị độc tôn. Suốt cả một đời tranh tranh đấu đấu xâu xé nhau như loài hổ báo, như loài 4 chân sài sói thì đó là con đường hủy diệt sinh mệnh vốn rất dài của mình trong tiến trình luân hồi dằng dặc.

Những kẻ “thập ác bất xá” này ngộ tính thấp. Lấy tiêu chí chữ Nhân mà ta vừa trình bày thì họ không thể được gọi là Người. Một trong những ông Tổ của Đạo Gia là Lã Động Tân có lần đã thốt lên chán nản: “Ta thà độ động vật còn hơn độ nhân”

Thực ra, ngay cả việc gọi  lũ người hành ác, không tin có Thần Phật  là loài vật đi nữa, họ cũng không xứng đáng.

Bởi, trên mạng ta có thể sưu tầm được rất nhiều những hình ảnh của những con vật có những biểu hiện của sự Nhờ Ân, biểu hiện của việc xin cứu mạng…

Con vật cũng biết hợp thập

Thực ra, một số loài như cá Heo khi thẳng thân lùi lại phía sau; như con khỉ, con chó được cho ăn và âu yếm… đều biểu hiện thái độ Ân Nghĩa. Thậm chí, ta có thể gặp hình thức chắp tay hợp thập của chúng!

Nói rộng hơn một chút, khi đặc định cho con người hiện diện trên thế gian, không cần phải theo một chính giáo nào; loài người đã biết tới cử chỉ Song Thủ Hợp Thập. Bức tranh vẽ hai bàn tay đứa em đã lao động kiệt sức trong hầm mỏ lấy tiền nuôi anh thành họa sỹ trở thành kiệt tác có lẽ chính là hai tiếng Nhờ Ân.

Trong những bí mật mênh mông không thể nghĩ bàn và mãi mãi nhân loại không thể khám phá của thế giới cao tầng, thì bí mật của Thân Thể con người là rắc rối nhất.

Chữ “Nhân” không chỉ mang một nghĩa bề mặt  là cái Thân Thể xác thịt với hơn 90% là nước. Nó là hàng tỷ ,tỷ, tỷ vũ trụ còn phức tạp hơn hàng tỷ hệ Ngân Hà của chúng ta gộp lại. Phật Thích Ca Mâu Ni cách đây 2500 năm đã nói với mọi người trong giọt nước ông uống có vô lượng chúng sinh. Kỳ diệu hơn, ông đã giảng học thuyết “Tam Thiên Đại Thiên thế giới “. Rằng “trong một hạt cát có tam thiên đại thiên thế giới”, rằng: “Kỳ đại vô ngoại, kỳ tiểu vô nội”. Như  vậy, cái mà chúng ta gọi là thế giới vĩ mô hoặc thế giới vi mô là không có giới hạn; không ngần mé, không thể nghĩ bàn.

Nếu chúng ta cứ ngạo mạn coi những kiến thức nhỏ bé nông cạn của chúng ta là tối ưu thì mãi mãi chúng ta cứ bò lết trong Mê với sự ngạo mạn ngớ ngẩn mà chúng Thần phải lắc đầu! Thực ra, câu chuyện vô Thần hay hữu Thần người ta bình luận từ xưa tới nay là thảo luận về câu chuyện con gà mái và quả trứng cái nào có trước. Đặt con người vào một tình thế lựa chọn 50% và 50% trước vấn đề niềm tin, các chính Pháp xưa nay thường đề cập tới phạm trù của chữ NGỘ.

Con người phải tu luyện trong Mê. Đó là một lựa chọn đầy thử thách. Chúng ta càng tiến bộ về khoa học, càng hưởng thụ đời sống vật chất thừa thãi, chúng ta càng xa rời những quan niệm truyền thống. Chúng ta gọi tất cả những gì xưa cũ là bảo thủ, là Mê Tín. Thực ra, ngày nay đã có rất nhiều điều đã được thừa nhận mà ai có Thiện tâm đều nên nhìn chúng một cách nghiêm túc.

Chẳng hạn, người ta đã công nhận một số người có 6 loại công năng siêu thường như Thiên Nhãn Thông, Thiên Nhĩ Thông, Tha Tâm Thông… .

Chẳng hạn, người ta bắt đầu nhìn thấy những lỗ hổng của thuyết Tiến hóa cho con người có tổ tiên với loài khỉ. Những bằng chứng về sự hiện diện của con người đã có mặt trên hành tinh này hàng vạn, hàng triệu, thậm chí hàng tỷ năm đã loại trừ thuyết của Darwin cho rằng con người xuất hiện cách đây 1 vạn năm.

Những công trình nghiên cứu văn hóa Tiền Sử đang là những thực tế tạo nên các dấu hỏi to tướng khó có lời giải đáp nếu chúng ta cứ đi theo một hướng của khoa học thực chứng  mà chúng ta bây giờ luôn  tin là chân lý.

Con người vốn là Thần. Khi xuống trần gian nó sống trong Mê và trôi trong Luân Hồi Lục Dục. Phật Gia và Đạo Gia đều đánh thức con người Tu Luyện để Phản Bổn Quy Chân, về quê hương đích thực của mình.

Chỉ có Tu Luyện, con người mới khai mở được Trí Huệ của mình. Lúc ấy họ mới khám phá, nhìn thấy những giá trị đích thực về vũ trụ, thời – không và bí mật của các sinh mệnh.

Tìm hiểu con đường hình thành của chữ Thánh Hiền xưa, nhiều nhà nghiên cứu đã thấy mối quan hệ giữa chữ THẦN và chữ NHÂN; trong truyền thuyết cổ xưa, ta có thể nhận thức rằng, có một thời Thần cùng người đồng tại. Nghĩa là có một thứ văn hóa bán Thần bán Nhân đã từng tồn tại. Ngay cả chữ ghi ý mà chúng ta đang bàn tới hôm nay cũng là sản phẩm của văn hóa Thần truyền ấy. Hầu hết các con chữ đều chứa đựng yếu tố Đạo Đức.

Và  chữ NHÂN mặc dù chỉ có 2 nét giản dị nhưng nội hàm của nó chẳng giản đơn chút nào.

Làm Người có thể dễ. Nhưng làm Nhân khó lắm thay. Đây  là một cách nói chữ, chơi chữ nhưng nếu nghiêm túc suy nghĩ thì có thể đó không phải lời nói đùa!

La Vinh

Xem thêm: