Những cuộc bao vây Rhodes và Malta, năm 1522 và 1565

119

Các bên tham chiến: những hiệp sĩ của Thánh John (Philippe Villiers de L’Isle Adam) với người Thổ Nhĩ Kì (Suleiman the Magnificent). Với việc thất bại thảm hại của quân Thổ đã ảnh hưởng tới việc Thổ Nhĩ Kì thống trị châu Âu, thống trị đạo Hồi và nền văn minh phương Đông.

Tái hiện quang cảnh diễn tập quân sự của các Hiệp sĩ. Pháo đài Saint Elmo, Valletta, Malta, 8 tháng 5 năm 2005. Ảnh: Wikipedia

Những Ác quỷ

Người ta đã biết rằng điều đó sẽ đến. Vào ngày 22 tháng 6 năm 1522, Gabriele Tadini di Martinego đã đến từ Crete – nơi mà anh ta đã xây dựng những công trình phòng thủ cho Cộng hòa Venice. Công trình sư nổi tiếng từ Crema đã nói với những hiệp sĩ của Thánh John, rằng quốc vương Thổ Nhĩ Kì đang trên đường tới tiến công pháo đài của họ và ông ta không thể chịu được việc bỏ lỡ cuộc chiến đó. Philippe Villiers de L’Isle Adam – người đứng đầu những hiệp sĩ, đã nồng nhiệt chào đón người lính Italy. Martinego là một trong những pháo thủ xuất sắc nhất trong thời đại này.

Vào lúc rạng đông, ngày 26 tháng 6, những người bảo vệ của Rhodes thấy 300 con thuyền Thổ Nhĩ Kì bên ngoài chuỗi dây xích lớn đã căng ngang qua lối vào tới bến cảng của mình. Đợt đầu tiên, họ có 10 000 người. Chẳng mấy chốc, họ đã vào tới 100 000 người. L’Isle Adam có 600 hiệp sĩ và khoảng 5000 người lính khác, không có pháo binh cơ động mà chỉ có 7 thuyền chiến. Những hiệp sĩ không có cách nào để chống lại việc đổ bộ. Một tháng sau, đích thân quốc vương Thổ Nhĩ Kì là Suleiman the Magnificent, đã xuất hiện cùng cùng với nhiều binh lính và nhiều pháo hơn. Súng của Thổ Nhĩ Kì bao gồm 40 khẩu súng đại bác lớn và 12 khẩu súng đồng lớn. Khi quốc vương đến, họ bắt đầu nổ súng và sử dụng một vũ khí mới. Lần đầu tiên trong lịch sử, một thành phố bị tiến công tới tấp bởi đạn pháo. Một viên đạn duy nhất từ một trong những khẩu súng này có thể đánh sập một ngôi nhà ngay cả khi nó bị bắn trượt.

Người Thổ Nhĩ Kì có lẽ đã dự đoán rằng việc sử dụng một vũ khí như thế này ngay từ đầu sẽ phá vỡ tinh thần của những người lính bảo vệ. Tuy nhiên, những hiệp sĩ không phải là những binh lính bình thường. Dòng tu của các hiệp sĩ tổ chức cứu tế (Hospital of Saint John the Baptist) của Jerusalem là một bóng ma của quá khứ. Đó là một dòng tu được hình thành trước những cuộc Thập tự chinh. Mục đích ban đầu của những thầy tu là xây dựng một tổ chức cứu tế để giúp những tín đồ Thiên Chúa giáo hành hương đến vùng đất Thánh. Tầng lớp này phát triển và được tổ chức theo những ngôn ngữ hoặc “phương ngữ”. Có những phương ngữ của Provence, Auvergne, Pháp, Italy, Tây Ban Nha, Anh và Đức. Mỗi phương ngữ có một bề trên riêng. Khi cuộc Thập tự chinh đầu tiên dẫn đến một thời đại chiến tranh liên miên với những cường quốc Hồi giáo, các hiệp sĩ cứu tế đã có thêm trách nhiệm chiến đấu. Họ thề sống nghèo nàn, thoát dục, phục tùng, chăm sóc cho những người ốm và bị thương. Tuy nhiên, họ cũng mặc áo giáp, cưỡi ngựa chiến để chiến đấu với những kẻ thù của người theo đạo Cơ Đốc với giáo và gươm.

Cuối cùng, khi bị đuổi khỏi vùng đất Thánh, các hiệp sĩ dừng lại ở Rhodes. Họ không bao giờ từ bỏ việc chiến đấu với người Thổ Nhĩ Kì. Rhodes là một vùng đất xơ xác cách bờ biển Anatolia – trung tâm của đế quốc Ottoman 16km.

Vào thời điểm các hiệp sĩ theo dõi người Thổ Nhĩ Kì thiết lập những vòng vây của họ, thì Hernan Cortes đang hoàn thành việc xâm chiếm Mexico; còn các sứ giả Bồ Đào Nha được tiếp đãi trong triều đình ở Bắc Kinh; và thành lũy cuối cùng của quân Thập tự đã sụp đổ từ hơn ba thế kỉthế kỷ trước. Một ngày mới đã bắt đầu, nhưng những hiệp sĩ của Thánh John, bây giờ thường được gọi là những hiệp sĩ của Rhodes, đã không thay đổi các mục tiêu của họ.

Mặc dù vậy, họ đã thay đổi kĩ thuật của mình. Những hiệp sĩ đã dựa vào súng đại bác, súng trường nhiều hơn là giáo và gươm. Họ đã thay thế áo giáp bằng áo giáp sắt dày của các chiến binh châu Âu tiến bộ nhất. Hơn nữa, những cư dân sống trên sa mạc một thời, nay đã trở thành những thủy thủ. Họ có một hạm đội nhỏ thuyền galê – gồm 7 chiếc, mỗi chiếc gồm những thủy thủ nói cùng một phương ngữ – ra khơi để bắt các tàu buôn Thổ Nhĩ Kì. Quan trọng nhất, họ đã củng cố Rhodes theo cách thức hiện đại nhất. Những tường thành dày, thấp, được bao quanh bởi những rãnh khô và được che giấu một phần bằng một chỗ đất dốc, có thể thách thức những khẩu đại bác. Những thành lũy và những công sự phụ làm cho họ có thể quét ngang những cái hào bằng hỏa lực của súng trường và pháo. Viên đạn cứng rắn và ngay cả đạn cối cũng không thể chạm đến những hầm ngầm.

Tín đồ Hồi giáo gọi các hiệp sĩ là những kẻ “sùng đạo” – một thuật ngữ họ có từ thứ bậc của những thầy tu đạo Hồi. Họ kính trọng những thầy tu là lính, vì kĩ năng quân sự và lòng dũng cảm. Tuy nhiên, họ thấy nghề cướp biển của các hiệp sĩ là điều không thể chấp nhận được. Họ gọi Rhodes là “Thành lũy của những Ác quỷ”.

Thử thách đầu tiên

Mohammed – Nhà chinh phục, người đã chiếm Constantinople hùng mạnh, đã quyết định tiêu diệt sào huyệt của những tên cướp biển ở bên ngoài bờ biển của ông. Ông cử một đội quân và một hạm đội gồm 160 con thuyền dưới sự chỉ huy của Meshid Pasha thực hiện nhiệm vụ này. Hạm đội đã đến vào ngày 23 tháng 5 năm 1480 và ngay lập tức cố gắng tiến công dồn dập vào thành lũy phía tây của thành phố. Thất bại đẫm máu đó thuyết phục Meshid Pasha tin rằng ác quỷ được tạo nên từ những thứ cứng rắn hơn hầu hết kẻ thù của anh ta.

Meshid chuyển sự chú ý sang tháp Thánh Nicholas, một pháo đài tách biệt trên bán đảo ở phía bắc của thành phố.

Thuyền galê Địa Trung Hải của thời kì đó – cổ như cái tên của nó – là một chiếc thuyền ở chỗ nước nông có thể đi bằng buồm, nhưng trong trận đánh thì phải chèo. Sự khác biệt là phía trên nó có một cái boong rộng, trong đó đặt những khẩu súng đại bác.

Sĩ quan chỉ huy Thổ Nhĩ Kì cử những thuyền galê tiến công tháp từ phía biển, trong khi bộ binh cố gắng đột chiếm nó từ đất liền. Lính Thổ Nhĩ Kì cùng với những cây súng bắn tên trèo vào bờ trong khi những người bạn của họ giữ trọng pháo ở phía đối diện tháp. Những hiệp sĩ đáp trả với súng đại bác và súng trường. Những chiếc thuyền galê bị phá vỡ trên bãi biển và bị nhấn chìm trong nước. Rất nhiều lính Thổ Nhĩ Kì bị bắn hạ. Meshid Pasha rút lực lượng của mình ra để thử bằng chiến lược khác.

Pháo đài của Dòng tu Hiệp sĩ tại Rhodes
Pháo đài của Dòng tu Hiệp sĩ tại Rhodes. Ảnh: Wikipedia

Lần này, ông tập trung vào bức tường phía đông nam thành phố. Những người Thổ Nhĩ Kì nhắm trọng pháo của họ vào những điểm dễ bị tiến công nhất trên tường và bắt đầu đặt mìn phía dưới. Họ tạo ra hai lỗ hổng trên tường, nhưng khi tiến công vào trong bức tường, họ nhận thấy các hiệp sĩ đã xây dựng bức tường mới ở đằng sau chúng và đặt những khẩu súng đại bác trên chướng ngại vật dự phòng đó. Những người Thổ Nhĩ Kì đã bị đánh tơi bời. Trước khi họ có thể trấn tĩnh, các hiệp sĩ đã tiến công ra ngoài và phá hủy tất cả công cụ bao vây.

Meshid trở về tháp Thánh Nicholas. Lần này, ông xây dựng một cây cầu phao để binh lính có thể đi vào bờ đồng loạt thay vì đi vào với số lượng nhỏ. Một hiệp sĩ Anh tên là Rogers đã bơi dưới nước và cắt những dây neo của cầu, vì vậy dòng chảy đã cuốn nó ra biển.

Meshid ra lệnh thực hiện hai cuộc tiến công liên tục từ đất liền vào tháp. Xác của lính Thổ Nhĩ Kì chất thành đống, nhưng Meshid không thể giành được một bàn đạp vững chắc.

Meshid ra lệnh bắn phá khắp thành phố để làm rối trí những người bảo vệ ở những chỗ sẽ là mục tiêu tiến công tiếp theo của ông.

Trong khi đó, những công binh của ông đã bí mật đào hầm vào trong rãnh khô. Họ bắt đầu xây dựng một ụ đất để những người tiến công có thể chạy qua đỉnh bức tường. Những hiệp sĩ đương đầu với mối đe dọa này bằng máy lăng đá.

Máy lăng đá là một loại pháo được phát minh trước thuốc súng trong thời kì của những cuộc Thập tự chinh. Thay vì dựa vào việc xoắn những dây quấn, nó sử dụng trọng lực. Một đối trọng lớn được đặt ở phía cán ngắn của trục quay và vật để ném sẽ được treo ở cuối phía cán dài. Khi đối trọng rơi xuống, cán dài sẽ được nâng lên và phóng vật đó ra. Máy lăng đá của các hiệp sĩ có thể ném một vật xa tới 450 mét. Phạm vi có thể được điều chỉnh bằng cách di chuyển đối trọng lên và xuống trên phía cán ngắn. Tất nhiên, phạm vi cũng phụ thuộc vào trọng lượng của vật được ném ra.

Đối với mục tiêu này, các hiệp sĩ không cần tầm xa. Những tảng đá họ ném ra rất nặng. Họ không chỉ giết những người xây dựng ụ đất và san phẳng ụ đất, mà còn làm sụp những đường hầm đang được đào. Tiếp theo việc bắn phá bằng máy bắn đá, các hiệp sĩ xông ra phá vây. Meshid trở lại với mặt đất trống không.

Meshid dựng những cái cọc được mài sắc bên ngoài những bức tường và chuyển lời tới các hiệp sĩ rằng nếu họ không đầu hàng, họ sẽ bị kết liễu bằng những chiếc cọc đó. Các hiệp sĩ cười nhạo ông. Meshid tăng cường gấp đôi pháo cùng với việc đào hầm. Những người Thổ Nhĩ Kì đã tạo ra các lỗ hổng khác và Meshid tieps tục cử binh lính vào trong. Họ bao gồm một tiểu đội cảm tử được lệnh giết vị tổng chỉ huy của các hiệp sĩ bằng bất cứ giá nào. Vị tổng chỉ huy là một người Pháp tên là Aubusson đã bị thương, nhưng người Thổ Nhĩ Kì chưa vào thành phố đã bị tiêu diệt. Meshid quyết định giảm tổn thất và đi thuyền trở về đất liền.
Sau việc đó, quốc vương Mohammed phớt lờ Rhodes. Vì vậy, những người kế tục ông là Bayazid và Selim the Grim cũng làm như thế. Mặc dù vậy, vào năm 1520, Thổ Nhĩ Kì có một quốc vương mới, một người mới với những ý tưởng mới.

Người đặt ra luật lệ

Những cường quốc theo đạo Cơ Đốc gọi ông là “Suleiman đại tài”, ông đã mở rộng đế quốc Ottoman tới phạm vi lớn nhất và phát triển nó tới quyền lực lớn nhất. Những người dân đã xem ông là hiện thân của người trùng tên trong Kinh Thánh, họ gọi ông là “Suleiman người đặt ra luật lệ”. Cả hai biệt danh này đều hợp lí.

Suleiman đã thừa kế một đế quốc bị chinh phục bởi những người dân du cư – tổ tiên của ông, người Osmanlis Thổ Nhĩ Kì (người Ottoman trở thành những người phương Tây) – đông hơn những người dân định cư. Những luật của đế quốc này vẫn được phản ánh trong tục lệ của những người dân du cư. Người Osmanlis không còn là những người chăn gia súc lang thang nữa, nhưng họ không thích nghi được với sự đổi mới như là cuộc sống đô thị, những trường học và những khẩu súng. Suleiman đã cố gắng để không chỉ đưa đất nước của ông theo kịp thời đại mà còn đi trước các đối thủ châu Âu khác.

Ở châu Âu hầu như chỉ mình ông có đội quân chính quy, mặc dù nó không lớn. Sức mạnh lớn nhất trong đội quân này là kị binh phong kiến. Suleiman đã đổi mới và mở rộng quân đội bằng cách mở rộng lực lượng pháo binh chính quy lên đến 3000 pháo thủ. Việc này diễn ra cùng lúc những nhà thầu dân sự phụ trách phần lớn pháo của châu Âu. Vị quốc vương đã viết ra những quy định mới cho lính Thổ Nhĩ Kì, về sự thối nát của phương Tây thời yenicheri, hoặc những đội quân non trẻ. Các quy định này đã có ảnh hưởng cả một thời gian dài đến tận thế kỷ XIX.

Lính Thổ Nhĩ Kì là những nô lệ. Những quan lại trong chính quyền cũng giống như những người lính Thổ Nhĩ Kì, họ bị tách khỏi dòng họ. Suleiman không theo hệ thống này. Những gì ông làm là thăng chức cho các quan lại và nô lệ lên thứ bậc cao nhất. Trong khi các quý tộc Thổ Nhĩ Kì đã đứng đầu các nhánh khác nhau của chính quyền, nhưng dưới thời Suleiman, các vị trí trụ cột này được trao cho những sinh viên tốt nghiệp xuất sắc nhất của những trường học dành cho nô lệ – đứng ra “tổ chức”. Người bạn đồng thời là tể tướng của Suleiman là Ibrahim, đã được ông trao cho quyền lực lớn nhất mà chưa tể tướng Thổ Nhĩ Kì nào từng có, lại là một người Hi Lạp, được sinh trong gia đình mà bố mẹ theo đạo Thiên Chúa.

Bất kì vị quốc vương Ottoman nào cũng được kì vọng sẽ gây chiến liên tục với những người ngoại giáo. Mặc dù vậy, Suleiman không chắc việc xâm chiếm thêm các vùng đất khác có phải là điều tốt nhất cho đất nước của ông hay không. Thổ Nhĩ Kì đã kiểm soát những tuyến đường thương mại qua đất liền giữa châu Âu, Ấn Độ và Trung Quốc. Thương mại được phát triển mạnh trong thời hòa bình mang lại sự giàu có cho đế quốc hơn so với chiến tranh. Tuy nhiên, những người lính Thổ Nhĩ Kì và những Spahis (kị binh chính quy) lại có thu nhập phụ thuộc vào đồ cướp được. Nếu không có chiến tranh thì họ có thể gặp khó khăn. Vì vậy, khi những triều thần nói rằng vua của Hungary đã giết sứ giả, Suleiman liền ra lệnh nổi trống bắt đầu cuộc xâm lược và cho quân đội tiến công Belgrade – một thành phố Serbia do người Hungary nắm giữ.

Sau một tuần bao vây, đơn vị phòng thủ ở đó đã đầu hàng. Trong nhật kí của mình, Suleiman viết: “Suleiman (ông luôn nói đến bản thân mình ở ngôi thứ ba) đi qua cây cầu và vào Belgrade, nơi mà ông ấy đi tới lễ cầu nguyện hôm thứ Sáu ở một nhà thờ đạo Thiên Chúa đã được đổi thành một nhà thờ Hồi giáo ở bên ngoài thành phố”. Những người Hungary bị bắt giữ được cho phép về nhà. Những người Serbia được cử đến Constantinople -nơi mà họ phải phục vụ những người đã chiến thắng họ. Đó là một cuộc bao vây ngắn và dễ dàng, vì vậy người Thổ Nhĩ Kì đã khoan dung. Bên cạnh đó, vị quốc vương trẻ vẫn là một người hay lí tưởng hóa, ông tin vào tình anh em của những con người.

Trở về Constantinople, Suleiman đã dành hết tâm sức để tăng cường thương mại với phương Tây. Chỉ có một trở ngại cho thương mại của Thổ Nhĩ Kì: Thành lũy của những ác quỷ. Vì vậy, vị quốc vương quyết định phải xóa bỏ nó.

Cuộc bao vây lớn.

Có lẽ vị quốc vương muốn cuộc bao vây sắp tới sẽ dễ dàng như cuộc bao vây Belgrade. Thực tế, ông đã hi vọng nó có thể dễ dàng hơn. Vị quốc vương trẻ, cao, gầy với đôi mắt màu xám đã cử người đưa tin tới chỉ huy các hiệp sĩ – một người mạnh mẽ có bộ râu màu trắng. Nếu những hiệp sĩ của Thánh John đầu hàng, họ sẽ được chuyển tới Crete hay bất kì chỗ nào khác mà họ chọn, kèm theo tất cả các Thánh vật, của cải của họ, cùng với bất cứ tín đồ Thiên Chúa giáo người Rhodes nào muốn sẽ được đi theo. Nếu dân thành phố theo đạo Thiên Chúa ở lại, họ sẽ không bị quấy nhiễu hoặc cướp bóc và có thể tự do làm theo tôn giáo của họ. Nếu họ không đầu hàng, tất cả sẽ bị giết.

Bất cứ kẻ thù cũ nào của các hiệp sĩ trong các cuộc Thập tự chinh cũng có thể đoán trước được các hiệp sĩ sẽ không đầu hàng.

Lần đầu tiên, Suleiman biết được mùi vị chiến tranh thực sự. Lúc đầu, ông rất lạc quan.

Mở đầu trong nhật kí, Suleiman đã viết: “Quốc vương Thổ Nhĩ Kì (Suleiman) thay đổi vị trí đóng quân của mình. Việc bắn phá dữ dội đã bắt pháo của thành phố này phải câm họng”.

Sau đó, người Thổ Nhĩ Kì bắn ít đi, các hiệp sĩ chui ra khỏi chỗ tránh đạn và bắn trả.

Cuốn nhật kí ghi lại số thương vong đã tăng lên, nhưng người Thổ Nhĩ Kì không có gì để chứng tỏ điều đó. Mặc dù vậy, Suleiman đã bắt lính của ông phải nỗ lực hơn nữa.

Những phương pháp bao vây của người Thổ Nhĩ Kì không tinh vi như các “bậc thầy” người Italy – những người đang thực hiện công việc của họ trên khắp Tây Âu. Người Thổ Nhĩ Kì sử dụng phương pháp như đào hào – trong kĩ thuật gọi là “đường hầm” – đào thẳng đến những bức tường của pháo đài bị bao vây. Những đường hầm được đào theo đường ngoằn ngèo tránh đạn đại bác không thể xuyên thẳng theo chiều dài mà giết hết mọi người ở trong đó. Để có chỗ ẩn náu cho người đào hầm cũng như có chỗ đặt pháo, người Thổ Nhĩ Kì đã đào hào song song cách vài mét ở bên phải mỗi hầm. Sự khác biệt trong kĩ thuật hiếm khi tạo ra sự khác biệt lớn. Một vài pháo thủ thiện xạ có thể bắn tỉa chính xác qua độ dài rất lớn của hào.

Tuy nhiên, những người lính Thổ Nhĩ Kì có ít pháo thủ như Martinego. Vị công trình sư kiêm pháo thủ này là người thông thạo tất cả những thứ mà về sau này được gọi là “những bí ẩn” của pháo binh. Martinego sử dụng dây dọi để tìm ra điểm chính giữa của một họng súng và sử dụng thêm một dây dọi trên cái thước để xác định được tâm khóa nòng, giúp cho một khẩu súng đại bác nhắm bắn một cách chính xác. Ông sử dụng “thước đo độ của pháo thủ” – loại thước đo lần đầu tiên được người đồng hương Niccolo Tartaglia miêu tả như một công cụ để tìm ra góc nâng. Martinego sử dụng vài ngày trước khi cuộc xâm lược diễn ra để đo bằng bước chân các khoảng cách từ bức tường thành tới nhiều chỗ ở khu vực bên ngoài. Ông biết lượng thuốc súng và góc nâng cần thiết để bắn tới bất cứ phạm vi nào. Thiên tài của Martinego đã gây ảnh hưởng nặng nề tới những người Thổ Nhĩ Kì.

Phần sau trong sổ nhật kí, Suleiman đã viết: “Người điều khiển súng đại bác bị giết. Người chỉ huy lính bắn súng kíp và súng đại bác bị thương”.

Bị ngăn cản trong những cái hào, người Thổ Nhĩ Kì chuyển sang những đường hầm. Họ có thể đào dưới những bức tường và làm nổ tung chúng bằng thuốc súng. Martinego cũng có một giải pháp cho điều đó. Giống như Giustiani trong trận Constantinople (xem trận Constantinople, Part II) Martinego cũng chôn những cái trống nửa nổi nửa chìm ở trên mặt đất dọc theo phía trong những bức tường, trên mặt trống được bọc bằng một ít hạt đậu khô. Sự rung động của hạt đậu khô sẽ cho thấy nơi nào đang bị đào. Các hiệp sĩ đã gặp mìn và họ đã tiến hành phá mìn.

Suleiman viết vào sổ nhật kí của ông: “Những người lính đặt mìn gặp phải kẻ thù, chúng sử dụng một lượng lớn dầu mỏ để đốt cháy”.

Tuy nhiên, những người bảo vệ không thể ngăn chặn tất cả việc đặt mìn. Lính Thổ Nhĩ Kì đã đào khoảng 54 đường hầm. Tường bị thủng một số chỗ, nhưng sau chỗ thủng đó luôn có những chướng ngại vật và sau những chướng ngại vật luôn có những “ác quỷ hung dữ”.

Suleiman ghi lại: “Các binh lính đi vào trong pháo đài, nhưng bị những người ngoại giáo dùng máy bắn đá kiểu mới đuổi ra với tổn thất nặng nề”.

Cuộc tiến công cũ bị chặn lại, quốc vương lại ra lệnh một đợt tiến công mới. Hết cuộc tiến công này đến cuộc tiến công khác. Chẳng có cuộc tiến công nào thành công cả. Suleiman bắt đầu ghi lại những sự kiện tầm thường như những chiến thắng: “Một số người Circassians đã đột nhập vào trong, giành được 4 hoặc 5 ngọn cờ và một tấm ván lớn mà kẻ thù đã gắn đầy những cái móc kim loại để làm toạc chân người bao vây”.

Cuộc bao vây kéo dài trong nhiều tuần, sau đó là nhiều tháng. Suleiman cố gắng thực hiện những cuộc tiến công bất ngờ được chuẩn bị cẩn thận. Tuy nhiên, nó vẫn không hiệu quả. Ông chỉ có những thành công tạm thời. Các binh lính đã vượt qua một phần bức tường bị bắt giữ bởi những người nói tiếng Anh. Vị tổng chỉ huy già đã đích thân chỉ huy cuộc phản công đuổi những người lính Thổ Nhĩ Kì ra.

Suleiman ngày càng tuyệt vọng. Ông muốn chấm dứt việc bao vây trước mùa đông.

Suleiman tuyên bố với những binh lính của mình: “Đất và những công trình bằng đá ở trên mặt đất sẽ chỉ thuộc về quốc vương. Máu của những người dân ở bên trong và của cải cướp được sẽ thuộc về các người”.

Vào ngày 24 tháng 9, ông ra lệnh tiến công vào tất cả các điểm. Lính Thổ Nhĩ Kì mất 15.000 người, phía hiệp sĩ mất 200 người.

Những cuộc tiến công vô ích vẫn tiếp tục. Thời tiết trở nên lạnh hơn. Suleiman ra lệnh sửa chữa những tòa nhà Rhodes cổ bị hư hỏng để làm chỗ trú mùa đông. Ngay cả những người lính Thổ Nhĩ Kì cũng bắt đầu phàn nàn. Suleiman yêu cầu hạm đội quay trở lại đất liền để trú ẩn, tránh những cơn bão mùa đông. Bằng cách đó, không binh lính nào có thể bỏ trốn. Đến cuối tháng 10, ông ra lệnh tạm ngưng các cuộc tiến công lớn.

Vào ngày đầu tiên của tháng 12, Suleiman chuyển lời (một cách gián tiếp qua một người dân Rhodes) rằng nếu các hiệp sĩ đầu hàng, họ có thể có cùng những điều khoản mà ông đã đề nghị từ lúc bắt đầu việc bao vây. L’Isle Adam đã cử sứ giả đến chỗ của hoàng đế La Mã Thần Thánh, giáo hoàng và vua của Pháp để cầu xin sự trợ giúp. Mặc dù vậy, những cường quốc theo Thiên Chúa giáo đã quá bận rộn với các cuộc tranh cãi riêng của họ. Vị tổng chỉ huy cân nhắc những khả năng: nếu người Thổ Nhĩ Kì đột chiếm thành phố, tất cả những hiệp sĩ của ông và những người lính, cũng như tất cả thường dân Hi Lạp theo Thiên Chúa giáo trên hòn đảo, sẽ bị tàn sát. Ông yêu cầu đình chiến trong ba ngày. Suleiman sẵn sàng chấp nhận.

Vào lúc đêm khuya, một con thuyền chở rượu từ Crete đã mang 200 người tình nguyện vào Rhodes. Người Thổ Nhĩ Kì phát hiện ra nó và cân nhắc việc phá vỡ sự đình chiến. Một đám đông lính Thổ Nhĩ Kì được tập hợp trước những bức tường. Một khẩu pháo của Pháp đã bắn vào họ. Những lính Thổ Nhĩ Kì đáp trả bằng cuộc tiến công dữ dội trên toàn bộ phạm vi của thành phố. Các hiệp sĩ tiêu diệt rất nhiều lính Thổ Nhĩ Kì.

Trong trại Thổ Nhĩ Kì, Suleiman đã tính toán tổng thiệt hại của mình. Trong sáu tháng của cuộc chiến, lực lượng của ông đã có 60.000 người chết và không đếm được số người bị thương.

Trong thành phố, L’Isle Adam hỏi Martinego về tình trạng của những người lính bảo vệ. Ông xem xét những thông tin và vào ngày 21 tháng 12, ông chuyển lời tới Suleiman rằng ông sẽ đầu hàng theo những điều khoản được đề nghị từ lúc đầu. Suleiman đã chấp nhận. Suleiman không biết rằng chỉ có 180 hiệp sĩ và 1500 người lính còn có thể chiến đấu và họ chỉ có đủ thuốc súng để chống cự thêm mười hai giờ nữa.

L’Isle Adam đã ra khỏi thành phố để đến thăm quốc vương Suleiman.

Vị thầy tu già đồng thời là một người lính nói: “Ngài xứng đáng được khen ngợi, bởi vì ngài đã chiến thắng Rhodes và chứng tỏ lòng nhân từ”.

Suleiman trao cho vị tổng chỉ huy chiếc áo choàng danh dự. L’Isle Adam chuyển cho bạn mình là Ibrahim và nhận xét: “Thật đáng tiếc khi kẻ già cả này bị đuổi khỏi quê hương của mình”. Khi vị tổng chỉ huy trở lại Rhodes, Suleiman đã đến thăm. Ông cưỡi ngựa cùng với vài tùy tùng vào trong thành phố bị phá hủy và nói với những hiệp sĩ ở bên ngoài nơi ở của vị tổng chỉ huy rằng ông đến để hỏi thăm sức khỏe chủ nhân của họ. Các hiệp sĩ ngạc nhiên vì vị quốc vương Thổ Nhĩ Kì – đôi khi bị gọi là người Thổ Nhĩ Kì kinh khủng – là một người trẻ tuổi, ưa nhìn giống như bất cứ người lính phương Tây nào mà họ biết.

Suleiman thực hiện đúng như những gì ông nói. Các hiệp sĩ và những người lính của họ, cũng như hàng trăm người dân Rhodes đã được chuyển đến Crete trên những con thuyền của Thổ Nhĩ Kì. Những hiệp sĩ và lính bị thương ở lại đã được đưa tới Crete ngay khi họ hồi phục.

Di sản của Rhodes

Đảo Rhodes và các lãnh thổ sở hữu bởi các Hiệp sĩ Hospitaller dòng Thánh John (màu xanh nước biển).
Đảo Rhodes và các lãnh thổ sở hữu bởi các Hiệp sĩ Hospitaller dòng Thánh John (màu xanh nước biển). Ảnh: Wikipedia

Suleiman không bao giờ quên bùn, máu, những thi thể và mùi khó chịu của chết chóc trên Rhodes. Trong bốn năm sau, tiếng trống chinh phạt vẫn im lặng.

Sau đó, vào mùa đông, trong khi quốc vương và những tổng trấn của ông đang đi săn ở Balkans, thì 12.000 lính Thổ Nhĩ Kì ở Constantinople đã nổi loạn. Họ muốn chiến đấu và họ muốn cướp được của cải. Suleiman quay trở lại và xử tử những kẻ cầm đầu, nhưng ông biết ông phải tiến hành chiến tranh lần nữa. Ông đã làm theo lời gợi ý của nước đồng minh – vua Francis của Pháp – và tấn công Hungary, một phần của đế quốc La Mã Thần Thánh.

Đế quốc La Mã và Pháp đang đánh nhau và bên trong đế quốc cũng xảy ra chiến tranh khi những tín đồ Thiên chúa giáo chiến đấu với những người theo thuyết của Luther . Một đội quân toàn người Hungary đã được tập hợp để bảo vệ châu Âu khi người Thổ Nhĩ Kì tiến đến. Đối với Suleiman, việc này quá dễ dàng. Ở gần Mohacs, kị binh Hungary tiến công quân Thổ Nhĩ Kì. Họ chọc thủng hàng đầu tiên của kị binh phong kiến Thổ Nhĩ Kì được trang bị vũ khí hạng nhẹ. Họ vượt qua hàng thứ hai. Sau đó những hàng lính Thổ Nhĩ Kì tưởng như bất động đã chặn họ lại. Trước khi họ có thể trấn tĩnh lại, người Spahi và kị binh phong kiến – những người đã cố tình để các tín đồ Thiên Chúa giáo xuyên qua những hàng rào -khép chặt hai cánh và phía sau của họ. Trong nhiều thế kỉthế kỷ sau trận đánh đó, cho dù có bất cứ thảm họa nào xảy ra với những người Hungary, họ vẫn sẽ nói: “Tuy nhiên, vẫn còn hơn thua trận Mohacs”.

Suleiman ghi lại chiến thắng đó trong sổ nhật kí của mình. Những trải nghiệm ở Rhodes đã khiến chiến tranh trở nên khó chịu hơn với quốc vương, nhưng chúng không làm ông nhân từ hơn.

Ở Rhodes, vị quốc vương trẻ ngờ nghệch đã có một kinh nghiệm làm thay đổi cuộc sống. Ông sẽ không bao giờ như vậy nữa. Sổ nhật kí của ông đã ghi lại hình ảnh một người trẻ tuổi trong sáng bắt đầu thay đổi trở nên đen tối hơn.

Vào ngày 30 tháng 8, ông viết : “Quốc vương cưỡi ngựa ra ngoài. Ông ra lệnh cho các binh lính đưa tất cả những tù binh tới lều hội đồng”.

Ngày 31 tháng 8: “Quốc vương ngồi trên ngai vàng nhận lời chào của tể tướng, quan lại; tàn sát tù binh. Mưa như trút nước”.

Vào ngày 2 tháng 9, ông viết: “Những người còn lại ở Mohacs, 20.000 lính bộ binh và 4000 kị binh mặc áo giáp của đội quân Hungary đã được đem chôn”.

Suleiman đặt một đơn vị phòng thủ Thổ Nhĩ Kì ở Buda – thủ đô Hungary và lập Janos Zapolya làm một vị vua chư hầu Hungary. Sau đó, như người bảo vệ của tín đồ Hồi giáo dòng Sunni, ông quay sang hướng đông để giải quyết dòng Shiite của vua Ba Tư.

Trong khi đó, Ferdinand – anh trai của hoàng đế Charles – đã tự xưng là vua Hungary với những tàn quân của giới quý tộc Hungary. Ferdinand đã là đại công tước của Áo và vua của Bohemia.

Vào năm 1529, Suleiman tập hợp được trong khoảng 125.000 đến 200.000 lính và hành quân về Vienna.

Vienna chẳng có gì giống như Rhodes. Những bức tường đổ nát của nó không dày hơn 1,8 mét và không cao quá 2,1 mét. Những lỗ châu mai lỗi thời quá nhỏ đối với những khẩu pháo hiện đại. Suleiman hy vọng có thể nhử Ferdinand giao chiến với đội quân trên chiến trường của ông . Đội quân của Suleiman mạnh về kị binh và những con ngựa không giỏi leo tường thành.

Tuy nhiên, những người Áo đầu tiên mà người Thổ Nhĩ Kì trông thấy là 5000 người già, phụ nữ và trẻ em đã bị đuổi khỏi Vienna, vì họ là những “kẻ ăn hại”. Kị binh Thổ Nhĩ Kì đã giết hầu hết những người này. Sau đó, những kị binh đã đi xa xung quanh Vienna, giết những nông dân và đốt những ngôi nhà. Thay vì bao vây bằng những chiến hào, họ đã trực tiếp ngăn không cho sự trợ giúp đến được thành phố. Trong những chiến dịch này, họ đã tàn sát 100.000 dân thường.

Lực lượng bao vây của Suleiman chỉ chiếm đóng khu vực phía nam của thành phố. Những khẩu pháo nặng nhất đã bị sa lầy trên những con đường lầy lội – sau một mùa hè nhiều mưa nhất trong trí nhớ của họ – nhưng họ cũng không cần chúng để chống lại những bức tường thành yếu ớt của Vienna. Những người bảo vệ đã thêm vào tường thành những thành lũy bằng đất, nhưng Vienna vẫn chẳng là gì so với Rhodes. Người Thổ Nhĩ Kì bắt đầu đào hào và đường hầm thông thường. Họ cho nổ mìn, mở ra những lỗ hổng trên tường thành, có lỗ hổng rộng đến mức 24 người có thể đi vào cùng một lúc. Mặc dù vậy, họ vẫn bị chặn bởi những hàng rào dự phòng do bộ binh Đức và Tây Ban Nha làm (hoàng đế Charles V cũng là vua của Tây Ban Nha).

Rõ ràng, Rhodes đã làm thay đổi những người lính nhiều hơn so với Suleiman. Những người lính Thổ Nhĩ Kì đã mất niềm đam mê với công việc bao vây.

Suleiman hứa với các binh lính Thổ Nhĩ Kì sẽ cho mỗi người bọn họ 1000 đồng asper và sẽ thưởng thêm 30.000 đồng asper, đồng thời thăng chức cao nhất cho người lính đầu tiên vào trong thành phố. Vào ngày 14 tháng 10, có ba vụ nổ lớn đã mở ra một lỗ hổng rộng 39 mét. Quốc vương ra lệnh tiến công. Tuy nhiên, không ai nhúc nhích.
Từ trên tường, những người bảo vệ Vienna thấy sĩ quan Thổ Nhĩ Kì đang đánh lính của họ bằng roi da và gươm. Lần đầu tiên trong lịch sử, một đội quân Thổ Nhĩ Kì không chịu tiến công khi được ra lệnh. Đêm đó, những người Thổ Nhĩ Kì bắt đầu đốt mọi thứ họ không cần và giết tất cả những tù binh của họ. Một số người đã nhảy vào lửa. Sau đó họ hành quân trở về Constantinople. Mối đe dọa của quân đội Thổ Nhĩ Kì với Tây Âu đã mất đi ở Rhodes. Mặc dù vậy, người Thổ Nhĩ Kì cũng có hải quân.

Chiến tranh trên biển

Sau Vienna, Suleiman bỏ mặc châu Âu để tiếp tục cuộc chiến với vua Ba Tư. Để khiến đế quốc này phải bận rộn đối phó, ông dựa vào lực lượng hải quân. Đô đốc đầu tiên của ông là một thợ gốm Albania tên là Khair ed Din – người đã có một con thuyền và trở thành một tên cướp biển. Ông ta là hải tặc thành công đến mức mà chẳng bao lâu sau đã có một hạm đội, hầu hết những con thuyền bị bắt thuộc về tín đồ Thiên Chúa giáo. Suleiman xây dựng cho ông này một hạm đội mới và tuyển mộ những lính thủy để phụ trách nó.

Vài năm sau khi bị đuổi khỏi Rhodes, L’Isle Adam già đã thăm những triều đinh ở châu Âu, tìm kiếm một quê hương cho tầng lớp của ông. Cuối cùng, Charles V trao cho ông Malta, một vùng đất toàn đá nằm giữa Sicily và Tunis mà hoàng đế thấy không thể sử dụng vào việc gì. Những hiệp sĩ vui mừng. Từ Malta, họ có thể không cho phía tây Địa Trung Hải gặp hải thương Thổ Nhĩ Kì. Khair ed Din với bộ râu màu đỏ, được những tín đồ Thiên chúa giáo gọi bằng biệt hiệu là Barbarossa, hạm đội tàu chiến lớn của ông có thể đột kích rất xa. Những hiệp sĩ không thể ngăn chặn ông với bảy chiếc thuyền galê đỏ của họ. Mặc dù vậy, Barbarossa không bao giờ hấp tấp tiến công thành lũy mới của những “ác quỷ”.

Tại Malta, những hiệp sĩ củng cố hai bán đảo lởm chởm những đá ở bến cảng và xây dựng một xưởng đóng tàu giữa chúng. Ở cuối bến cảng, họ xây dựng một pháo đài đứng biệt lập gọi là Thánh Elmo.

Trong nhiều năm, cuộc chiến tranh trải qua nhiều thăng trầm. Có lúc, hải quân của đế quốc, dưới sự chỉ huy của Andrea Doria, đã bắt được Torgut – thuyền trưởng hải quân được tin cậy nhất của Barbarossa – ông được những tín đồ Thiên Chúa giáo gọi là Dragut. Jean Parisot de la Vallette – một hiệp sĩ đã góp phần bảo vệ Rhodes, thấy Torgut bị xích vào một mái chèo ở chiếc thuyền galê của Doria.

De la Vallette nói ở Lingua Franca: “Ông Dragut, đó là cách thức của chiến tranh”.

Torgut vui vẻ trả lời: “Và một sự thay đổi số phận”.

De la Vallette vội vàng tới gặp Doria và thúc giục ông ta chấp nhận số tiền chuộc mà Barbarossa đã đề nghị trả để đổi lấy Torgut. De la Vallette, cũng đã từng là một một nô lệ thuyền galê trên một con tàu của tín đồ Hồi giáo.

Sau đó vài năm, de la Vallette và Torgut đã gặp nhau lần nữa. Vào thời điểm đó, de la Vallette là tổng chỉ huy của những hiệp sĩ, ngang với thứ bậc bây giờ của Torgut. Sau khi Barbarossa chết, Torgut làm tướng chỉ huy của tất cả lực lượng hải quân Thổ Nhĩ Kì. Torgut chỉ là đô đốc chỉ huy trong một cuộc chiến tranh thăng trầm giữa những tín đồ Hồi giáo và Thiên Chúa giáo, những người chưa bao giờ bị đánh bại. Suleiman, một người già ác nghiệt, đã xử tử người bạn tốt nhất cùng với hai đứa con trai lớn của ông ta, đang chết dần chết mòn vì bệnh ung thư. Hiện giờ, quốc vương có một niềm đam mê: phải san bằng tỉ số với những người Thiên Chúa giáo, những “ác quỷ” đã chặn đứng ông từ cách đây rất lâu và hiện đang đột kích lên tới Dardanelles. Ông ra lệnh tiến hành một cuộc tiến công vào Malta.
Vào ngày 18 tháng 5 năm 1565, một lực lượng Thổ Nhĩ Kì dưới quyền chỉ huy của Piali Pasha và Mustafa Pasha đã đổ bộ vào Malta. Lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ có 30 000 lính, trong đó có 7000 lính Thổ Nhĩ Kì và 6000 lính Spahi. Đương đầu với họ là 500 hiệp sĩ, 1300 lính Tây Ban Nha và 4000 lính thủy cùng với người Malta. Người Thổ Nhĩ Kì đã đúc những khẩu pháo đặc biệt dành cho cuộc viễn chinh này. Một khẩu pháo nặng 40 tấn và bắn đạn nặng 90kg. Hai khẩu súng nữa nặng 20 tấn và bắn đạn nặng 41kg. . Những người Thổ Nhĩ Kì đã mang đến 100 000 quả đạn đại bác sắt để dùng cho pháo và 170 tấn thuốc súng để dùng cho cả súng và mìn.

Việc bao vây đã trở thành một thảm họa Thổ Nhĩ Kì từ rất lâu trước khi nó kết thúc. Torgut đã bị giết. Với cái chết của Torgut, việc Thổ Nhĩ Kì giành quyền làm chủ Địa Trung Hải chỉ dựa vào may rủi. Những người Thổ Nhĩ Kì tiếp tục tiến công. Cuối cùng, họ cũng chiếm được một tiền đồn, pháo đài Thánh Elmo và phải hi sinh 4000 lính.

Trong 73 ngày tiếp theo, người Thổ Nhĩ Kì tiến công thành lũy. Họ cố gắng cắt chuỗi dây xích căng qua bến cảng, nhưng những thợ lặn xứ Malta với những con dao ngậm trong miệng cũng làm việc như những công binh Thổ Nhĩ Kì. Người Thổ Nhĩ Kì kéo những chiếc thuyền galê qua đất liền để tiến công thành lũy. Họ đã mất tất cả những con thuyền và đoàn thủy thủ. Họ tạo ra một lỗ hổng trên tường lâu đài Thánh Michael, pháo đài trên một trong những bán đảo của thành lũy. Mustafa ra lệnh liên tục tiến công vào lỗ hổng. Những hiệp sĩ và lính được vũ trang đứng trong lỗ hổng và bắn hạ dòng người Thổ Nhĩ Kì liên tục tiến lên. Mustafa cuối cùng dừng việc tàn sát bằng cách hoãn việc tấn công. Ông sẽ thử một kế hoạch mới. Đội quân của ông sẽ tiến công thành lũy ở tất cả các điểm. Ở chỗ nào đó – nơi hàng phòng thủ của các hiệp sĩ và những người lính mỏng thì họ đã phá vỡ được.
Sau đó, những người canh gác Thổ Nhĩ Kì thấy một hạm đội Tây Ban Nha đi vào Malta. Người Thổ Nhĩ Kì đưa những thuyền galê của họ xuống và bỏ đi.

Người lính già dần yếu đi

Suleiman nổi giận. Ông được thuyết phục rằng đội quân không thể làm gì được, trừ khi ông có mặt ở đó để chỉ huy. Ông ra lệnh nổi trống viễn chinh. Đội quân của ông sẽ xâm chiếm Áo. Không thể ngồi trên một con ngựa, ông ra trận trên một cái kiệu. Đội quân của ông đang tiến tới Erlau ở Carpathians, nơi mà ông dự đoán sẽ tìm thấy đội quân Áo. Trên đường đi, Suleiman được tin một pháo đài Hungary được gọi là Sziget vẫn đang chống cự. Sziget là một pháo đài nhỏ chứ không phải là Vienna, hay Malta. Mặc dù vậy, vị quốc vương muốn xóa bỏ căng thẳng về việc bao vây thất bại. Ông ra lệnh đi vòng.

Lực lượng Thổ Nhĩ Kì tiến công Sziget một cách dữ dội vào ngày 5 tháng 8 năm 1566. Những sĩ quan muốn có thể thông báo với quốc vương rằng pháo đài đó đã bị đánh bại trước lúc sẩm tối. Tuy nhiên, nó không bị đánh bại. Những cuộc tiến công vẫn tiếp diễn. Vào ngày 29 tháng 8, quốc vương đề nghị trao cho chủ nhân của Sziget là bá tước Mildos Zriny, một vương quốc, nếu ông ta đầu hàng. Zriny không đầu hàng. Suleiman lệnh cho những người lính Thổ Nhĩ Kì của ông lấp đầy cái hào. Ông nói nếu họ không làm nhanh, ông sẽ lấp đầy nó với “của quý” của họ.

Vào ngày 4 tháng 9, quốc vương qua đời. Tể tướng của ông sợ đội quân sẽ bỏ chạy nếu họ biết Suleiman đã chết, vì vậy ông ta bí mật cho ướp xác của quốc vương và đặt lên ngai vàng. Những cuộc tiến công vẫn tiếp tục. Thấy lâu đài đang sụp đổ quanh mình, bá tước Zriny mặc áo giáp sắt tốt nhất của ông và dẫn những người tùy tùng phản công. Tất cả đều bị giết. Cái chết của quốc vương không thể giấu được nữa. Đội quân Thổ Nhĩ Kì bỏ qua đội quân Áo và quay trở lại Constantinople.

Con trai của Suleiman – thích hợp với biệt danh là Selim đần độn – đã kế tục ông. Lúc này, Thổ Nhĩ Kì đang dần trở thành “Người ốm yếu của châu Âu”. Đế quốc Ottoman đã phát triển tới đỉnh cao quyền lực của nó dưới thời Suleiman đại tài. Tuy nhiên, dưới sự chỉ huy của Suleiman, trong những cuộc bao vây Rhodes và Malta, với cả một thời gian dài, nó bắt đầu giảm dần sự ổn định và dẫn đến cái mà hiện giờ chúng ta gọi là “Thế giới Thứ ba”.

William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

Xem thêm: Những trận đánh làm thay đổi lịch sử thế giới