Hải chiến Midway, năm 1942: trận hải chiến quan trọng nhất Thế chiến II

828

Hải chiến Midway, năm 1942 giữa các bên tham chiến:  Mỹ (Raymond Spruance và Jack Fletcher) với Nhật Bản (Yamamoto Isoroku và Nagumo Chuichi). Đây là trận đánh xoay chuyển cục diện trong chiến tranh Thái Bình Dương.

Hoàn cảnh trước trận hải chiến Midway

Đô đốc Yamamoto Isoroku đã nói với Hoàng tử Konoye Fumimaro – người sau này là Thủ tướng Nhật Bản rằng: “Nếu tôi được lệnh chiến đấu bất chấp hậu quả, tôi sẽ tiến công dữ dội trong sáu tháng đầu hoặc một năm, nhưng tôi tin chắc nó sẽ không kéo dài đến năm thứ hai hoặc thứ ba”. Yamamoto là người đứng đầu hạm đội liên hợp Nhật Bản, chỉ huy tác chiến của hải quân Nhật. Về mặt lí thuyết, ông là người chịu trách nhiệm thực hiện những kế hoạch được Bộ tổng tham mưu hải quân đưa ra.

Đô đốc Yamamoto Isoroku
Đô đốc Yamamoto Isoroku (Ảnh: wikipedia)

Tuy nhiên thực tế, ông cũng lập ra những kế hoạch. Kế hoạch nổi tiếng nhất của ông là tiến công Trân Châu Cảng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941. Ông đã đưa kế hoạch này vượt qua tất cả trở ngại, mà trở ngại không nhỏ chính là Bộ tổng tham mưu hải quân. Ông tiến hành huấn luyện phi công Nhật theo cách mới, khuyến khích phát triển những loại ngư lôi mới và đã thắng trận hải chiến đầu tiên, trong đó những con tàu đối địch chưa bao giờ cách nhau đến 100 hải lí. Ông giành chiến thắng lừng lẫy. Tất cả tàu chiến trong Hạm đội Thái Bình Dương của hải quân Mỹ đã bị đánh bại.

Vì trận Trân Châu Cảng, và vì Đô đốc Ernest King – Tham mưu trưởng hải quân Mỹ đã cất giữ tất cả tàu chiến mới nhất của mình trên bờ biển phía Đông, cho nên những gì đã diễn ra cho thấy lực lượng hải quân lớn nhất thế giới rõ ràng chỉ đứng thứ hai trên đại dương lớn nhất thế giới.

Đúng như  dự đoán, Yamamoto trở nên ngông cuồng. Những con tàu của ông hộ tống binh lính Nhật tới Philippines, Mã Lai, Miến Điện và vùng Đông Ấn thuộc địa của Hà Lan. Người Anh cử một tàu chiến cùng với một tàu tuần dương hạm Prince of WalesandRepulse tới Viễn Đông và người Nhật đã đánh chìm hai chiếc tàu này ngay khi nó vừa mới đến. Singapore – “Gibraltar của phương Đông” đầu hàng vào ngày 13 tháng 2 sau một tuần chiến đấu. Ngày 5 tháng 5, Nhật Bản chiếm Corregidor, hoàn thành cuộc xâm chiếm Philippines. Họ đang tiến lên theo kế hoạch đã chuẩn bị để đổ bộ vào cảng Moresby ở New Guinea, chỉ cách Australia một eo biển hẹp. Yamamoto tỏ ra quá bi quan khi ông nói với Konoye rằng Nhật Bản có thể thắng cuộc chiến này trước khi nước Mỹ với sức mạnh công nghiệp khổng lồ có thể làm nghiêng cán cân.

Nhưng sau đó có vài trở ngại trên con đường đến chiến thắng của Nhật Bản. Không quân Mỹ dưới sự chỉ huy của Jimmy Doolittle – một người đua máy bay nổi tiếng ở Mỹ, đã tiến hành một cuộc không kích nhỏ vào Tokyo. Vụ không kích hầu như không gây bất cứ thiệt hại gì, nhưng nó đã khiến người dân Nhật kinh hoàng. Cuộc tiến công thứ hai lớn hơn: những tàu sân bay của Nhật và Mỹ đã có một cuộc đụng độ lớn trên biển Coral. Mỹ mất một tàu sân bay lớn, còn Nhật chỉ mất một tàu sân bay nhỏ. Nhật Bản tuyên bố lại có một chiến thắng nữa. Tuy nhiên, một tàu sân bay lớn của Nhật đã bị hư hại nghiêm trọng không hoạt động được trong nhiều tháng. Tổn thất thứ hai là Nhật mất hầu như tất cả máy bay ở đó. Do vậy, hoạt động của cảng Moresby bị trì hoãn vô thời hạn.

Trở ngại ở hướng nam đã giúp kế hoạch tiêu diệt Hải quân Mỹ của Yamamoto được thông qua. Yamamoto đã lên kế hoạch để làm cho quân Mỹ lâm vào cuộc chiến ở giữa Thái Bình Dương, gần đảo Midway. Một số người Nhật nghĩ rằng Midway là căn cứ máy bay của  Doolittle. (Thực ra thì những chiếc máy bay của Doolittle đã cất cánh từ một tàu chuyên chở và hạ cánh xuống Trung Quốc).

Kế hoạch của Yamamoto đã tận dụng lợi thế quyền làm chủ gần như toàn bộ vùng biển này của quốc đảo Nhật Bản. Một lực lượng đặc nhiệm sẽ tiến công Aleutians, ném bom căn cứ hải quân Mỹ tại Dutch Harbor và chiếm các đảo Attu, Kiska và Adak. Cuộc tiến công này sẽ lấy nốt những gì còn lại của Hạm đội Bắc Thái Bình Dương của Mỹ. Trong khi những con tàu Mỹ ở xa thì binh lính Nhật được hộ tống đến từ hướng nam, sẽ đổ bộ vào Midway và xây dựng một căn cứ không quân. Khi những con tàu Mỹ cố gắng quay trở lại từ Aleutians thì tàu ngầm Nhật mai phục sẵn sẽ công kích chúng. Sau đó, những chiếc máy bay từ Midway và hạm đội do Đô đốc Nagumo Chuichi chỉ huy sẽ tiến công tàu Mỹ. Nagumo có tất cả tàu chuyên chở lớn của Nhật thích hợp cho nhiệm vụ này. (Ông nhầm tưởng là có hai tàu Mỹ bị hư hại trên biển Coral). Nagumo là đô đốc tàu chiến trước đây đã chỉ huy hạm đội ném bom Trân Châu Cảng. Trước cuộc tiến công đó, ông còn nghi ngờ về sức mạnh không quân, nhưng bây giờ ông là người hăng hái ủng hộ không quân.

Yamamoto là người đã phát triển kế hoạch Trân Châu Cảng, nhưng lạ một điều là ông lại không hăng hái như Nagumo. Ông chỉ huy hạm đội chính, bao gồm hầu như tất cả phần còn lại của hải quân Nhật Bản. Con tàu đô đốc của Yamamoto là Yamato – một tàu lớn trang bị pháo 457mm, cùng với con tàu tương tự Musashi – là tàu chiến lớn nhất trên thế giới. Nagumo sẽ làm kẻ địch suy yếu và Yamamoto sẽ tiêu diệt chúng.

Yamamoto không trì hoãn. Là người ủng hộ nhiệt liệt sức mạnh không quân, nhưng để đi đến chiến thắng cuối cùng thì ông vẫn dựa vào súng đại bác. Ông đã nghĩ ra lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay, nhưng những người Mỹ đã làm theo sáng tạo của ông. Yamamoto chấp nhận gợi ý từ cấp dưới và ông tin cậy vào sĩ quan chỉ huy Genda Minoru trong việc phát triển kế hoạch Trân Châu Cảng. Tuy nhiên, ở những thời điểm khác ông lại cứng nhắc như gươm của samurai. Yamamoto đã mưu tính cẩn thận không chỉ khả năng cơ động của những con tàu của ông, mà cả tàu của Mỹ nữa. Tuy nhiên, ông không bao giờ tính đến việc người Mỹ có thể không làm theo kịch bản đó.

Những người Mỹ

Nhật Bản có tổng cộng 162 con tàu. Người Mỹ có 76 con tàu và một phần ba trong đó thuộc về lực lượng Bắc Thái Bình Dương là những tàu chưa từng chiến đấu.

Hình đảo san hô Midway
Hình đảo san hô Midway, vài tháng trước trận đánh. (Ảnh: wikipedia)

Tuy nhiên, chỉ huy hải quân Mỹ là Đô đốc Chester Nimitz có nhiều tàu hơn phía Nhật Bản dự đoán. Yamamoto được thong báo rằng những máy bay Nhật đã đánh chìm tàu Yorktown ở biển Coral. Nhưng con tàu sân bay lớn này chỉ bị hư hại và đã quay trở lại Trân Châu Cảng và nhanh chóng được sửa chữa. Những người thợ tại cảng đã thực hiện công việc sửa chữa chỉ mất có 2 ngày, trong khi bình thường công việc đó phải mất 90 ngày. Những lính thủy gọi con tàu này là “Waltzing Matilda”, giờ nó đã có thể ra khơi nhưng trong hoàn cảnh bình thường thì không bao giờ được phép rời khỏi xưởng sửa chữa. Công việc sửa chữa diễn ra rất vội vàng. Yorktown là căn cứ của hai đô đốc cao cấp ở Hawaii dựa theo báo cáo của Nimitz, Frank Jack Fletcher. Một chuẩn đô đốc hải quân khác là Raymond Spruance, có thêm hai tàu sân bay là Enterprise và  Hornet, là tàu chủ lực trong lực lượng đặc nhiệm số 16 của ông. Tất nhiên, những tuần dương hạm và tàu khu trục khác sẽ hỗ trợ cả hai lực lượng đặc nhiệm tàu chuyên chở. Gần vùng Alaska, chuẩn đô đốc hải quân Robert “Fuzzy” Theobold có 2 tuần dương hạm hạng nặng, 3 tuần dương hạng nhẹ, 9 tàu khu trục, 6 tàu ngầm và một số thuyền buồm của Đội bảo vệ bờ biển. Lực lượng Bắc Thái Bình Dương vừa mới được thành lập, những con tàu của lực lượng này được phân tán một cách rộng rãi, và Fuzzy Theobald có những ý tưởng của riêng mình – không giống với ý tưởng của Nimitz – về cách bảo vệ Aleutians .

Đó là lí do tại sao trong cuộc tiến công đầu tiên quân Nhật đổ bộ vào không thấy bất cứ đơn vị nào của hải quân Mỹ. Không có tàu nào của Mỹ chống lại cuộc tấn công Aleutian. Người Nhật ném bom Dutch Harbor, đổ bộ vào Attu và Kiska. Tuy nhiên, Dutch Harbor còn lâu mới bị đánh bại và những máy bay chiến đấu của không quân Mỹ từ Unmak đã gây nhiều khó khăn cho phi công Nhật hơn những gì họ đã dự đoán. Đó là lí do binh lính Nhật không đổ bộ vào Adak. Adak quá gần với Unmak.

Và tất nhiên cuộc tiến công vào Aleutians cũng không nhử được hạm đội chủ lực Bắc Thái Bình Dương của Mỹ bởi vì những người Mỹ có một lợi thế mà cả Yamamoto và Nagumo đều không ngờ tới: họ đã giải được một số mật mã và tài liệu mật của hải quân Nhật. Họ biết cuộc tiến công chủ lực nhằm vào Midway chứ không phải Aleutians.

Mặc dù vậy, người Mỹ không thể xác định những vị trí chính xác của hạm đội Nhật. Hải quân Mỹ có máy bay tuần tra PBY lớn, bay chậm, đã tìm kiếm trong bán kính 700 hải lí trên biển xung quanh Midway, nhưng họ không thể thấy những con tàu Nhật vì thời tiết xấu. Nagumo cũng cử máy bay đi do thám và họ cũng không thể thấy quân Mỹ. Tuy nhiên, người Nhật không hi vọng thấy bất cứ người Mỹ nào. Họ tin tưởng rằng tất cả người Mỹ đã đi lên phía bắc Thái Bình Dương.

Những cuộc tiến công đầu tiên

Động thái đầu tiên của Nagumo là tiến công Midway. Vào lúc 4 giờ 30 phút sáng ngày 4 tháng 6, Nagumo đã lệnh cho 72 máy bay ném bom và 36 những máy bay chiến đấu đã cất cánh khỏi 4 con tàu sân bay.

Nhật Bản tấn công Midway
Nhật Bản tấn công Midway lúc 06:20 ngày 4 tháng 6. (Ảnh: wikipedia)

Chỉ 10 phút trước khi những phi công Nhật cất cánh, 11 chiếc PBY đã bắt đầu một cuộc tuần tra nữa. Trên tàu Yorktown, 10 máy bay ném bom bổ nhào cũng bắt đầu cuộc tìm kiếm khác. Chưa tới một giờ sau khi xuất phát, một chiếc PBY đã thấy một tàu sân bay của Nhật qua những đám mây dày đặc. Vài phút sau, một máy bay tuần tra thứ hai đã báo cáo: “Nhiều máy bay đã tiến tới Midway, nhắc lại, Midway…”. Tất cả máy bay Mỹ ở Midway đã cất cánh trước khi máy bay Nhật đến. Những chiếc máy bay đánh chặn của hải quân đánh bộ Mỹ đã cố gắng chặn những kẻ tiến công, nhưng những máy bay chiến đấu Buffalo cổ lỗ này không phải là đối thủ khó nhằn với những chiếc Zeros của Nhật. Mặc dù vậy, hỏa lực phòng không Mỹ lại nguy hiểm và chính xác. Một phần ba máy bay tiến công của Nhật đã bị bắn hạ. Trong khi đó, những máy bay ném bom của Mỹ ở căn cứ Midway đang tiến công những tàu sân bay của Nagumo.

Có 6 chiếc máy bay Avenger phóng ngư lôi và 4 chiếc B26 của hải quân Mỹ được trang bị ngư lôi đã tiến công Nhật. Những máy bay phóng ngư lôi không thể phá vỡ tấm màn chắn bằng máy bay chiến đấu của Nhật Bản và bị thiệt hại nặng. Không một máy bay nào đánh trúng mục tiêu. Sau đó, 16 chiếc B17 là những chiếc máy bay ném bom tuyệt vời của quân đội Mỹ đã xuất hiện. Trước chiến tranh, B17 được trang bị thiết bị ngắm ném bom Norden được cho là có khả năng tiêu diệt những con tàu kẻ thù trước khi chúng tiến đến gần nước Mỹ. Lần tiến công này, không có một quả bom nào của Mỹ ném trúng vào tàu Nhật. Hơn nữa, trong toàn bộ cuộc chiến tranh của Billy Mitchell cũng chẳng có một chiếc B17 nào từng đánh chìm một tàu chiến của địch. Tiến công một nhà ga hay một nhà máy là mục tiêu cố định không giống việc tiến công vào con tàu đang di chuyển với tốc độ 30 – 45 hải lí mỗi giờ và có thể đổi hướng mà không gây sự chú ý. Tàu ngầm Nautilus của Mỹ cũng vào cuộc. Nó phóng một quả ngư lôi không nổ trước khi thoát ra khỏi những trận mưa bom phá tàu ngầm của Nhật Bản.

Nagumo đã giữ một vài máy bay dự phòng có trang bị ngư lôi và bom xuyên giáp để đề phòng những con tàu của đối phương xuất hiện. Giờ ông ra lệnh cho họ hạ cánh để trang bị thêm bom gây cháy và bom bi cho cuộc tiến công khác ở Midway. Và ông đã chuẩn bị sẵn sàng cho những máy bay trở về từ Midway.

Trên tàu Enterprise, thuyền trưởng Miles Browning – tham mưu trưởng của Spruance, đã đoán rằng Nagumo sẽ ra lệnh tiến công Midway lần thứ hai. Nếu những máy bay Mỹ xuất phát ngay thì họ sẽ bắt gặp máy bay Nhật Bản hạ cánh để tiếp nhiên liệu cho cuộc tấn công thứ hai. Spruance đã đồng ý với Miles Browning. Ông tung tất cả những máy bay chiến đấu, máy bay ném bom kiểu bổ nhào, máy bay phóng ngư lôi vào cuộc. Đây là một việc mạo hiểm bởi vì tiếp nhiên liệu sẽ chỉ mất một lát và sẽ đi ngay. Mặc dù vậy, khi họ đến mục tiêu đáng lẽ những chiếc máy bay Nhật đã nằm im như những chiếc máy bay hỏng thì không may đúng lúc này Nagumo quyết định thay đổi việc tiến công.

Sáu phút tai họa

Máy bay tiêm kích, máy bay ném bom bổ nhào và máy bay phóng ngư lôi bay theo những nhóm riêng. Fletcher đã trì hoãn cho những máy bay xuất phát phòng khi có thêm những con tàu Nhật xuất hiện, nhưng hai tiếng sau ông đã tung những máy bay của mình vào cuộc.

Trong khi đó, Nagumo đã nhận được tin tức xấu nhất. Những con tàu Mỹ ở vùng phụ cận, không ở Aleutians. Ông cho những máy bay chuẩn bị để ném bom Midway được tái trang bị vũ khí để hạ gục những con tàu.

Những máy bay chiến đấu, máy bay ném bom bổ nhào xuất phát từ tàu Hornet đã hoàn toàn trượt mục tiêu bởi vì Nagumo đã đổi hướng tiến công. Phi đội máy bay phóng ngư lôi của Hornet là Torpedo 8, đã thấy tàu sân bay của kẻ thù. Một máy bay phóng ngư lôi phải bay thấp và duy trì một đường thẳng. Điểm mạnh nhất của máy bay phóng ngư lôi khác máy bay tiêm kích và những chiếc máy bay phóng ngư lôi từ những tàu sân bay của Mỹ không phải loại có điểm mạnh này. Mặc dù Torpedo 8 không có máy bay chiến đấu yểm trợ, nhưng sĩ quan chỉ huy của nó, thiếu tá hải quân John Waldron vẫn tiến công. Mọi máy bay đều bị bắn hạ, chỉ một phi công còn sống sót. Tiếp theo phi đội máy bay phóng ngư lôi xuất phát từ tàu Enterprise xuất hiện. Có 10 trong số 14 máy bay đã bị bắn hạ. Sau đó, phi đội máy bay phóng ngư lôi của tàu Yorktown tiến công cũng mất số lượng máy bay như vậy.

Phi đội thứ ba tiến công bằng máy bay phóng ngư lôi đã bị tiêu diệt vào lúc 10 giờ 24 phút sáng. Tại thời điểm này, hạm đội của Nagumo đã đẩy lùi các cuộc tiến công của những chiếc máy bay từ căn cứ ở đất liền, đánh bại một tàu ngầm và tất cả máy bay phóng ngư lôi của Hạm đội Thái Bình Dương của hải quân Mỹ mà không bị đánh trúng một lần nào. Có vẻ như Nagumo sẽ sớm được ăn mừng ở San Francisco.

Vào lúc 10 giờ 26 phút, thiếu tá hải quân Clarence McClusky trong khi dẫn đầu những chiếc máy bay ném bom kiểu bổ nhào của tàu Enterprise trở về sau khi không tìm thấy những tàu sân bay của kẻ thù, thì thấy tàu sân bay Kaga. Những chiếc máy bay của McClusky sắp hết nhiên liệu, nhưng anh không do dự. Anh ra hiệu cho một trong hai phi đội máy bay đi theo anh nhào thẳng vào Kaga. Trung úy W.E. Gallaher chỉ huy phi đội thứ hai lao xuống Akagi, tàu đô đốc của Nagumo. Tất cả những chiếc Zeros của Nhật đang ở độ cao thấp, nơi mà họ vừa mới chấm dứt việc bắn hạ những máy bay phóng ngư lôi của địch. Một quả bom xuyên qua cái móc treo của Akagi và làm nổ tung những chiếc máy bay phóng ngư lôi của tàu Akagi đang cố gắng tiếp nhiên liệu. Nagumo rời khỏi tàu đô đốc của mình, sau đó con tàu này đã bị đánh chìm bởi một tàu khu trục của Nhật. Kaga đang cháy từ đầu đến cuối, sau đó một vụ nổ từ bên trong thân tàu đã khiến nó bị xóa sổ. Những máy bay ném bom bổ nhào xuất phát từ tàu Yorktown, dưới sự chỉ huy của thiếu tá hải quân Maxwell Leslie đến ngay khi con tàu sân bay thứ ba của Nhật là Soryu, đang chuẩn bị để những chiếc Zeros của nó cất cánh. Ba quả bom đánh trúng đã khiến Soryu rơi vào thảm họa. Sau đó tàu ngầm Nautilus xuất hiện và phóng ba quả ngư lôi vào Soryu. Soryu bị phá tan một nửa. Hai phần cháy rực của con tàu sân bay chìm xuống làm  xì ra một đám hơi nước. Cuộc tiến công bằng máy bay ném bom bổ nhào chỉ diễn ra trong vòng  ba phút nhưng nó đã loại 3 trong số 4 tàu sân bay hạng nặng đang tác chiến của hải quân Nhật.

Vậy là chỉ trong 5 phút, những gì giống như một thắng lợi hoàn toàn của Nhật đã trở thành thất bại tồi tệ nhất mà đế quốc này đã từng trải qua. Và đó mới chỉ là sự khởi đầu của nhiều điều tồi tệ hơn nữa.

Tuần dương hạm Mikuma của Nhật trong hải chiến Midway
Tuần dương hạm Mikuma của Nhật, bị những máy bay ném bom bổ nhào từ tàu Hornet đánh chìm.(Ảnh: wikipedia)

Những hơi thở cuối cùng

Nagumo không từ bỏ. Ông cử những máy bay còn sót lại trên tàu sân bay Hiryu tới tiến công Yorktown. “Waltzing Matilda” bị trúng 3 quả bom và 2 quả ngư lôi, quá nhiều cho một con tàu lớn vừa được sửa chữa. Fletcher chuyển lá cờ chỉ huy của ông sang một tuần dương hạm và thuyền trưởng của Yorktown là Elliot Buckmaster ra lệnh bỏ con tàu. Đoàn thủy thủ cố gắng sửa chữa một cách tuyệt vọng để cứu con tàu và có vẻ như họ đã thành công. Khi Yorktown đang được kéo về Trân Châu cảng bởi một tàu quét thuỷ lôi thì một tàu ngầm Nhật phát hiện ra nó và đã đánh chìm cả “Waltzing Matilda” cùng với con tàu kéo nó.

Không lâu trước cuộc tấn công vào Torktown, Fletcher đã cử 10 máy bay ném bom bổ nhào tìm kiếm thêm tàu sân bay của Nhật. Họ đã tìm thấy Hiryu khi những máy bay của con tàu này đang tiến công tàu Yorktown của họ. Những máy bay Mỹ quay trở lại Enterprise, được tiếp nhiên liệu và kết hợp với 14 chiếc máy bay ném bom bổ nhào khác dưới sự chỉ huy của Gallaher đi tiến công Hiryu. Những phi công Mỹ đã bắn trúng  4 phát vào Hiryu và họ chỉ mất 3 chiếc máy bay. Hiryu bị vô hiệu hóa và dần dần chìm xuống biển. Chuẩn đô đốc Yamaguchi – một sĩ quan xuất sắc được xem là người xứng đáng nhất kế tục sự nghiệp của Yamamoto nhất cũng bị dìm xuống đáy đại dương cùng với con tàu.

Lúc đầu khi nghe tin về thảm họa, Yamamoto đã quyết định chiến đấu bằng những tàu chiến lớn của ông. Nagumo tranh luận chống lại việc này và Yamamoto đã tước quyền chỉ huy của Nagumo. Nhưng lúc sau, ông đã suy xét lại. Những người Mỹ đã làm chủ trên không. Ông miễn cưỡng ra lệnh cho những con tàu của mình trở về căn cứ. Khoảng thời gian 6 tháng “ngông cuồng” của ông đã chấm dứt.

Hiryu đang bị tấn công trong hải chiến Midway
Hiryu đang bị tấn công bằng máy bay ném bom B-17 Flying Fortress (Ảnh: wikipedia)

 Sau đó còn có nhiều cuộc chiến đấu ác liệt giữa quân Mỹ và quân Nhật, nhưng bước tiến của Nhật Bản đã bị chặn lại kể từ sau trận hải chiến Midway. Ngành công nghiệp của Nhật không thể theo kịp Mỹ trong việc chế tạo máy bay, tàu sân bay và phương pháp đào tạo lỗi thời của Nhật không thể nhanh chóng đào tạo được phi công giỏi. Hơn nữa, máy bay và tàu ngầm Mỹ đang dần bóp nghẹt việc tiếp tế cho binh lính Nhật ở xa. Trước khi quả bom nguyên tử nổ trên Hiroshima, Nhật Bản không có dầu, không tàu buôn, không có những nhà máy sản xuất máy bay và không có những thành phố lớn.

William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

Xem thêm: