Giai đoạn trung bộ của văn minh: Ai cập và Lưu vực Lưỡng Hà

0
56
Cảnh đời sống sinh hoạt người Ai Cập cổ đại được tái hiện qua tranh vẽ. Ảnh: Du lịch Việt Nam

Trong giai đoạn trung bộ của văn minh xứ Ai cập và xứ Lưu vực Lưỡng hà đều sống bằng nông nghiệp, ở ven những con sông Nil, Le Tigre, Euphrate.

Ba con sông này cứ đến khoảng tháng năm, tháng sáu là dâng nước lên rất cao, tràn ngập các vùng ven bờ. Sau khi rút lui, nước để lại chỗ vừa bị lụt một lớp phù sa quý báu, khiến đồng ruộng trở nên phì nhiêu vô cùng. Trên cánh đồng ruộng phù sa ấy, dân cư chỉ việc ném hạt tức là có lúa ăn chẳng cần phải cày cấy gì cả.

Nhưng nhiều khi nước lũ chảy về nhiều, nước sông dâng lên cao quá, gây ra những trận lụt tai hại làm cho cuộc sống của cư dân lắm phen điêu đứng. Sông Nil thì còn nguy hiểm vừa vừa, vì ở mạn trên Khartum, triền sông chia ra nhiều thác lớn tựa như các đập thiên tạo để hỏa hoãn triều con nước mỗi khi mưa lũ đổ xuống, chứ hai con sông Le Tigre và Euphrate thì thật là những đại nạn cho cư dân: lòng sông không có đập đá thiên thành nên nước lũ chảy về cực nhanh, tạo ra những trận hồng thủy kinh khủng. Bởi lẽ này mà kỹ thueetj trị thủy của cư dân Lưỡng Hà rất tinh vi và ảnh hưởng trực tiếp đến kỹ thuật Ai cập.

Bức vẽ trong Kim Tự Tháp thể hiện hai người nam nữ Ai Cập đang thu hoạch nông sản.
Bức vẽ trong Kim Tự Tháp thể hiện hai người nam nữ Ai Cập đang thu hoạch nông sản. Ảnh: Tin247.com

Tuy vậy, các bộ lạc du mục mọi nơi vẫn tiếp tục đổ tới các miền Lưỡng Hà, Ai cập một ngày một đông- nhất là Lưỡng Hà bởi đất đai ở đây rất phì nhiêu: lúa mì, lúa mạch không cần sức người nhiều lắm, mà cũng cứ đâm bông đến ba vụ một năm. Khí hậu lại ôn hòa: Lưỡng Hà ở giữa bắc vĩ tuyến 30 và 38, lại gió biển ở Đông Nam và gió núi ở Đông Bắc thổi tới làm dịu tiết nóng lạnh đi; Ai cập ở giữa Nam vĩ tuyến 20 và ắc vĩ tuyến 32, thuộc vào khu bán hoàng đạo (khí hậu sa mạc) nhưng lại được gió biển hòa hoãn tiết nóng. Bởi điều kiện thiên nhiên thuận lợi như vậy, nên Ai cập và Lưỡng Hà luôn luôn là cái đích của nhiều cuộc di cư ở các nơi xô đến.

Tình trạng sinh hoạt ấy (đất phì nhiêu, khí hậu ôn hòa, nước lụt, cư dân tăng gia) bầy ra ba vấn đề sau đây, cần giải quyết ngay:

1) Trị thủy và dẫn thủy

2) Tập trung đa số nhân công để dùng vào việc trị thủy

3) Tổ chức chính quyền để quản trị và bảo vệ xã hội.

Kỹ thuật- Kỹ thuật của cư dân Ai cập và Lưỡng Hà phần lớn chỉ là một kỹ thuật trị thủy. Làm cách nào để giữ cho ruồng đồng khỏi ngập lụt? Làm cách nào để tích được nước dùng khi đại hạn? Đó là hai vấn đề sinh tử đã bắt cư dân phải vận dụng hết các năng lực tri thức, các kinh nghiệm hàng ngày để giải quyết cấp bách. Và họ đã thắng thiên nhiên, làm chủ được hoàn cảnh vật chất, họ đã sáng tạo được cả một hệ thống kỹ thuật rất tài tình. Họ biết đắp đê lớn để ngăn cản nước sông lúc dâng cao không ùa được vào đồng ruộng. Đợi khi nào nước lên thật to, họ mới mở từng quãng đê cho ùa vào để họ lợi dụng đất phù sa của nước sông. Lúc nước rút lui thì họ tới tấp gieo hạt xuống đồng ruộng tươi tốt và bốn tháng sau thì họ đã có cả một mùa màng phú túc. Họ lại biết đào hồ ngòi, lạch để hòa hoãn triền sông và tích trữ nước (dân Ai đào hồ Moeris chứa được 1000 triệu thước khối đủ tưới 200.000 mẫu ruộng, dân Lưỡng Hà đào hồ Meschhhed-Aly, hồ Hyspasimon rộng hàng ngàn mẫu). Muốn lấy nước tưới ruộng, họ đã chế tạo ra được một thứ máy rất thô sơ: cái gáo cần (buộc gáo vào đầu một cái cần, tì xuống cán cần thì gáo vút lên).

Đã lợi dụng được nước sông lại gặp đất đai phì nhiêu, cư dân Ai cập và Lưỡng Hà càng để nhiều thì giờ và tâm trí vào sự cải thiện kỹ thuật sản xuất nông nghiệp. Trong một thời gian lịch sử khá lâu, văn minh Ai cập và Lưỡng Hà cứ phát triển độc lực trên nền tảng nông nghiệp ấy. Mãi tới đầu thiên niên kỷ thứ III tr.CN mới xẩy đến cho hai xứ một sự kiện quan trọng đã biến đổi hẳn trạng thái sản xuất của họ: họ biết chế luyện đồng đen. Theo ức thuyết của các nhà khảo cổ học thì thuật chế luyện đồng đen, dân Ai cập đã học được của những dân vùng Cận đông. Tời đầu thiên niên kỷ thứ hai tr.T.L từ những rừng rậm phía Bắc (xứ Nga và Turkestan) vô số bộ lạc du mục giống Ấn-Âu rầm rọ tràn tới xâm lấn các vùng Lưỡng Hà, Tiểu á, Ai cập. Dân Kassites chiếm Lưỡng Hà, dân Hittite chiếm Tiểu á, dân Hyksos chiếm Ai cập.

Trong thời kỳ bị xâm lấn này, dân Lưỡng Hà học được của kẻ chiến thắng thuật luyện sắt và sự dùng ngựa. Rồi dân Lưỡng Hà lại truyền hai phát kiến đó cho dân Ai cập. Nhờ sự biết chế luyện đồng đen và sắt, nông nghiệp được phồn thịnh rất mực, tổ chức chính trị và xã hội ngày càng bầy rõ tính cách giai cấp; chế độ tư hữu và tài sản riêng kiên cố. Do đó mà nảy nở sự tập trung mẫu quyền chính vào tay một thiểu số, sự của tôn ti rất gắt gao, sự chênh lệch rất đáng công phẫn.

Nhưng những điều ấy đã làm cho công nghệ và thương mại phát triển. Sức tiêu thụ các xa xỉ phẩm của Vua, chúa, tăng lữ, quý tộc tụ tập ở các đô thị lớn đã hút một số đông dân cày ra tỉnh làm thợ. Vì phải phô trương quyền thế bằng những công trình cụ thể, giai cấp thống trị ở Ai cập và Lưỡng Hà đã trở nên thủy tổ của thuật kiến trúc. Họ xây lăng tẩm, miếu mạo, đền đài để được dương uy lực và để ghi khắc sự bất tử của linh hồn họ. Họ lại phát minh ra được thuật làm giấy bằng thân cây cói (papyrus) để biên chép các sự nghiệp đế vương, các hành vi “thần thánh” của họ lúc sinh thời.

Chính quyền đã mạnh, sinh sản lực đã lợi riêng cho một giai câp thì tất nhiên chế độ quân bình cũng phải được khuếch xung. Luôn luôn, dân Ai cập avf dân Lưỡng Hà phải chinh chiến với các xứ láng giềng. Từ khi học được sự nuôi dùng ngựa, dân Ai cập liền tạo ra những cỗ xe ngựa chở bộ binh rất độc, dân Lưỡng Hà, nhất là dân Assyr mãi tới đã sáng khởi ra những đoàn mã. Khảo cổ thì văn tự Ai cập và Lưỡng Hà chuyển từ thể tượng hình sang thể hài thanh vào khoảng cuối thiên niên kỷ thứ tư (Tr.T.L). Ở Ai cập, tên hoàng đế Narmer được hình dung trên một tấm đá bằng một cái ngữ mê (rebus) do hai dấu hiệu họp thành, mỗi dấu hiệu chỉ thị một âm mẫu của tên hoàng đế. Bởi thấy văn tự của Ai cập và Lưỡng Hà lúc mới xuất hiện chỉ ghi chép có tên các đức Vua nên nhiều nhà bác học cho rằng nó xuất hiện đồng thời với chế độ tập trung chính quyền (Histoire de I’Orient của A Moret, trang 96- 97- 99). Chủ thuyết này đã được phần đông các nhà xã hội học thừa nhận vì xét chung các xã hội thượng cổ đều thấy rằng ở đâu văn tự cũng chỉ là một lợi khí tranh đấu của giai cấp quản trị.

Một điều cần chú ý nữa là cùng theo một lịch trình tiến hóa mà chỉ vì vật liệu dùng khác nhau nên chữ Ai cập khác chữ Lưỡng Hà. Chữ Ai cập phải viết lên đá rắn, nên hình tự (hie’roglyphe) đường nét rõ rệt và giữ tính cách hội ý nguyên thủy. Còn Lưỡng Hà vì phải viết lên đất thó (lưu vực Lưỡng Hà không có đá, chỉ có đất thó) nên chữ đâm ra hình góc (caractere cuneiforme)> và ngay ở Ai cập, sau này viết lên giấy cói bằng bút ống sậy, chữ cũng theo sự quy định của vật liệu mới mà hóa ra hình nét vạch (caractere lineaire)- tức là lối chữ thảo xuất hiện về thiên niên kỷ thứ hai. Những chứng cớ này tỏ rằng hình thái của văn tự đã bị vật liệu và kỹ thuật trực tiếp quy định.

Sự sáng tạo ra văn tự dùng để ghi lại những việc chính trị, quân binh, xã hội… là một tiến bộ quyết định của loài người. Với văn tự, loài người bước vào chính sử. Với nó, tất cả loài người bắt đầu xây dưngj xã hội loài người và in dấu vết nhân lực sán lạn trên khoảng thời gian không tiền không hậu.

Nghệ thuật. – Sự tập trung chính quyền vào tay một thiểu số đã gây ra sự tập trung tư hữu tài sản. Hai trạng thái đó đã trực tiếp kích thích sự phát triển của nghệ thuật. Đầu tiên là thuật kiến trúc và thuật điêu khắc. Ở Ai cập thuật kiến trúc hoàn toàn là sản phẩm của các bậc đế vương triều Memphis. Thời cực thịnh của đế triều Memphis là thời trị vì của các hoàng đế Khesops, Khèphren, Mykérinos (khoảng 2840-2680 trước Tây Lịch). Ba vị này có sáng kiến và đủ uy lực để tựu thành công trình kiến trúc Kim Tự Tháp ở Gizeh. Đó là những quả núi ngất trời do bàn tay con người tạo ra, cao tới 157 thước, chân rộng tới 227 thước, bề khối tính ra được 2 triệu rưỡi thước khối (Kim Tự Tháp của Khéops). Theo sự nghiên cứu của Fritz Hommel thì chính người Lưỡng hà đã sang Memphis dạy người Ai cập thuật kiến trúc. Một chứng cớ là các tháp mới đầu toàn làm bằng gạch như các lâu đài ở thành Babilon (những công trình kiến trúc Lưỡng Hà đều bằng gạch vì ở xứ đó thiếu đá).

(Tuy nhiên, một số nghiên cứu khảo cổ mới đây cho rằng, những Đại Kim Tự tháp có thể là sản phẩm của nền văn minh tiền sử, do người khổng lồ xây dựng. Ở đây chúng tôi giữ nguyên luận điểm của tác giả – Ban BT)

Xem thêm: Ziggurat – Các kim tự tháp Lưỡng Hà cổ đại

Những Kim Tự Tháp Ai Cập.
Những Kim Tự Tháp Ai Cập. Ảnh: Tinhhoa.net

Ngoài những Kim Tự Tháp, các hoàng đế Ai cập  còn khuyến khích thuật điêu khắc, nhất là thuật tạc tượng. Tượng bằng đá hoặc bằng gỗ có khi tạc vào đá phiến, có khi tạc thành hình riêng, cái nào cũng lộ một tính cách tả thực rất phong phú. Phần nhiều chỉ là tượng hình người- hình các vua, các quan liêu chân tay của đế triều. Trong số lượng chân dung (statue-portrait) quý giá của thời Memphis  còn sót lại, ta có thể kể ra tượng bán thân của hoàng đế Khesphren tượng hoàng đế Mykherinos và hoàng hậu tạc vào đá phiến, tượng nho sĩ sắp chân bằng tròn (hiện bày ở viện bảo tàng Louvre), tượng (bằng gỗ) viên lý trưởng đứng đốc thúc phu phen làm Kim Tự Tháp… Sau này vị hoàng đế triều Thefbes hồi cực thịnh (2000-1788), nhất là hoàng đế Ramses đệ nhị lại theo vết tiền nhân , khuyến khích thuật kiến trúc bằng cách xây đền đài miếu mạo đồ sộ (đền Karnak, đền Lugsor, đền ở Gurnah lấy tên đức vua).

Nghệ thuật thời Ramses đệ nhị, có tính cách “người” hơn chứ không quá tôn nghiêm thần thánh như các bức tượng thời Memphis. Đã có những bức tượng đàn bà khỏa thân phần lớn là kỹ nữ, chứng tỏ rằng các nghệ sĩ bắt đầu được cảm hứng về những vẻ trần tục, những vẻ nhân sự nhiều hơn là cảm hứng nặng nhọc về huyền bí, âm u.

Ở Lường Hà thuật điêu khắc và tạc tượng cũng phát triển như ở Ai cập. Những bức tượng đầu sư tử bằng váng râu bằng ngọc, những bức tranh chụp đá đục nổi, những bức tranh khảm bằng đá nhiều màu đào thấy ở Tello cựu kinh đô của dân Sumerien (khoảng 3000 năm trước Tây Lịch) những bức tượng tạc hình Vua Gueda (khoảng 2492) cụt mất đầu (bày ở viện bảo tàng Louvre), tầm bia đục nổi cảnh vua Eannaturn xứ Lagash dẫn quân đi chinh phục xứ láng giềng, tầm bia đục nổi vua NaramSim (đế triều Agade khoảng – 2700)- tất cả công trình điêu khắc ấy “sắp phải đạt tới một nghệ thuật thuần túy như thứ nghệ thuật mà 2000 năm sau người Hy lạp mới thực hiện được” (theo lời Contenau)[1] thì xứ Lưỡng Hà bị các dân du mục Elamite và Amorite ồ đến tàn phá làm gián đoạn mất đà tiến triển. Từ đó xứ Lưỡng Hà lần lượt bị các giống người Amorites (khoảng cuối thiên niên kỷ thứ ba), Hittite (khoảng – 1400) Assyriens (khoảng – 1115) chiếm cứ và cai trị. Nghệ thuật Lưỡng Hà cũng theo từng dân tộc thống trị ấy mà thay đổi chút ít những tựu trung vẫn là tiếp nối con đường phát triển của nghệ thuật cố hữu mà giống người Sumerien đã tạo nên ở xứ Lưỡng Hà.

Tại sao, ở Ai cập và Lưỡng Hà về thời thượng cổ, hai nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc lại chiếm địa vị gần như độc tôn như vậy?

Sở dĩ giai cấp thống trị Ai cập và Lưỡng Hà chỉ khuyến khích nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc là bởi ở thời đó cái then chốt đời sống tinh thần của mọi người là sự băn khoăn về cuộc đời sau khi chết. Như lời nhận xét của Resnee- grousset: “toàn dân Ai cập từ vị hoàng đế đến kẻ tù nhân, đều sống để sửa soạn cái vận mệnh tương lai của họ. Người Ai cập tin ở thuyết linh hồn bất tử, hoặc nói đúng hơn, họ tin rằng mỗi người có một linh hồn ở trong thể phách, khi chết cái hồn ấy vẫn tồn tại trong mồ. Muốn cho cuộc sống tử hậu ấy có thể được, người chết phải có một số điều kiện cần thiết như: Xác chết ướp cho còn nguyên ở trong mồ, phải tạc tượng, hoặc vẽ, khắc vào đá hình người chết, hình các người thân thuộc với người chết và những công việc người chết thường làm lúc sinh thời- dân gian cho rằng sau khi chết, hồn người còn sống y như lúc còn ở trong thể phách. Những tượng và tranh vẽ ấy càng giống chừng nào người chết càng chắc chắn được sống sung túc như hồi sinh thời.  Những ý tưởng tôn giáo ấy thâm nhập vào đầu óc người Ai cập đã giúp cho nghệ thuật người Ai cập được phát triển mạnh mẽ- nhất là nghệ thuật tạo hình”.

Ở Lưỡng Hà, tin tưởng “linh hồn bất tử” ấy còn có những kết quả thực tế thảm khốc hơn. Trong những lăng tẩm các Hoàng đế Lưỡng Hà (khoảng 3800 3500 trước T.L) do phái bộ Anh Mỹ của hai ông Hall và Woller đào tìm thấy năm 1927-1928 ở vùng Ur, ngườu ta khám phá thấy rằng bị chôn cùng người chết cả những vật và người hằng ngày thân thiết hoặc cần dùng đối với người chết, như: vợ, binh lính, nô lệ, ngựa, chó, .v.v.

Những tin tưởng “linh hồn bất tử” và “đời sống tử hậu của con người” ấy nẩy nở được là bởi kinh tế nông nghiệp cực thịnh và chế độ gia tộc phụ quyền ở thời đó đã tạo ra những điều kiện vật chất và tâm lý giúp chúng nẩy nở. Nhờ sự khu phân của các bộ quan năng trong xã hội nông nghiệp –  sự khu phân này là kết quả của sự phú túc về hoa lợi và tài sản – con người đã biết đến cuộc đời tư hữu dần dần thoát khỏi ít nhiều áp bức của đoàn thể. Chế độ gia tộc phụ quyền, tuy chưa đặt cá nhân lên một địa vị cao, nhưng đã gây cho cá nhân một ý thức về giá trị riêng của nó. Người con trai trưởng đã thấy tài sản thừa hưởng được là thuộc quyền quản lãnh của riêng mình. Hẳn lại có quyền di truyền tài sản của hẳn cho đứa con trai trưởng (quyền này được pháp luật công nhận). Thấy mình phải chiến đấu, lao lực, tính toán công phu mới khuếch xung được tài sản tư hữu – trong sự tạo tác cần cù này nhân cách con người không thể nào không đau đớn khi nghĩ rằng sau lúc mình chết sẽ tiêu tán và mất hết của cải gom góp được. Đó là điều kiện tâm lý cơ bản đã làm nảy ra khái niệm “cuộc đời tử hậu”, cái này là phụ thức (corollaire) của khái niệm “linh hồn bất tử”. Nói rằng kinh tế nông nghiệp đã quy định tư duy và tín ngưỡng của con người, là thế.

Ngoài những điều kiện kinh tế và tâm lý ấy sự phát triển của kiến trúc và điều khắc ở Ai cập và Lưỡng hà còn một điều kiện nữa chi phối: đó là cái tập truyền (tradition) kỹ thuật của thời thạch khí lưu lại. Vốn thoát thai ở những thế hệ thạch khí quen vẽ, đục, khắc, chạm các đồ đá rất tinh vi khéo léo, các thế hệ đến sau, khi đã sống cuộc đời nông nghiệp phồn thịnh, bắt buộc phải thừ hưởng cái khôn sảo quen thuộc ấy để biểu hiện những hình thức sinh hoạt tinh thần mới. Trong lịch sử tiến hóa của một xã hội cũng như của loài người, không bao giờ một thế hệ sau lại không chịu ảnh hưởng chút nào của thế hệ trước. Vì hiện tượng ấy, nên sự tiến hóa vẫn bầy ra một tính cách tiếp tục mặc dầu nhiều khi vượt bực.

Đã biết dùng nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc để làm lợi khí tranh đấu, giai cấp thống trị, ở Ai cập cũng như Lưỡng Hà, còn biết dùng cả văn chương nữa để mê hoặc công chúng. Văn chương Ai cập ở thời cựu đế quốc từ 5000 đến 2500 trước Tây lịch- do bọn quý tộc và tăng lữ sáng tác- chỉ có độc mọt tính cách là phụng sự đế triều. Công dụng của nó là sát nhập đế vương với thần linh, dùng hình thể tôn giáo để mưu đồ một mục đích chính trị. Phải đợi đến sau cuộc cách mạng (kéo dài từ năm 2350 đến 2150 trước Tây lịch) do các phần tử tinh anh của dân chúng lãnh đạo chống đế quyền, trong văn học Ai cập mới thấy nẩy nở những tác phẩm có cảm hứng cá nhân, có tinh thần phê bình, phần nhiều là những văn chương bàn về thời bệnh, về nỗi đau xót của kiếp người. Đã có những áng văn dám biểu lộ cả một cốt tính vô thần rất táo bạo (F. Sartiaux). Sau khi đế quyền phục hương khoảng 2000-1788 trước Tây lịch, phong trào văn học tự do ấy biến ra những truyện tích phiêu lưu, những đoản thiên và trung thiên tiểu thuyết có tính cách lãng mạn. Đến thời tân đế quốc (từ 1500 đến 950 trước Tây lịch) văn chương bình dân mới phát triển và thể hiện ra những áng thi ca ái tình rất nồng nàn, mê đắm. Nhưng, phần tử quan trọng trong văn học các thời đó vẫn chỉ là các thứ văn ca tụng giai cấp thống trị, dùng tôn giáo để mê hoặc quần chúng.

Ở Lưỡng Hà, văn chương cũng đồng một tính cách với văn chương Ai cập, nghĩa là cũng chỉ ủng hộ, củng cố, phô trương uy lực của bọn vua chúa cầm quyền bằng cách tuyên truyền cái chủ đề quan định (thefmee officiel) cho rằng: các bậc đế vương là những đấng tinh anh thay mặt thần linh để cai trị muôn dân, trăm họ phải phục tùng tuyệt đối, không được cưỡng lại[2].

Bởi lẽ đó, nên nghệ thuật, (kiến trúc, điêu khắc) và văn chương ở Ai cập và ở Lưỡng Hà đều giống nhau ở điểm yếu này: các chủ đề, các biểu tượng làm vật liệu sáng tác cho các nghệ sĩ đều do vua  chúa hoặc tăng lữ ấn định; nghệ sĩ chỉ là một người thừa hành thượng lệnh có bổn phận phục tùng ý muốn của sức mạnh thống trị. Nguồn hứng của thứ văn nghệ ấy bắt rễ ở quan niệm tôn giáo và công dụng của nó là phân chia ranh giới các giai cấp trong xã hội để chính thức hóa hạng người ưu thế nắm được quyền quản trị. Nói như Felix Sartiaux “nghệ thuật huy hoàng của Ai cập và Lưỡng Hà chỉ là một nghẹ thuật có tính cách quan định do những bậc vua chúa và tăng lữ yêu cầu một nhóm nghệ sĩ làm, để trang sức đến đài, miếu tự và lăng tẩm”.

Trương Tửu

Ghi chú:

[1] Rene Grousset dẫn trong bộc sách Lea Civilisatious de Iorient, tome l, trang 62- (1929)

[2] Xem Ai cập cổ sử và cận đông cổ sử của Nguyễn Đức Quỳnh (Bàn Thuyên xuất bản)

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây