Cuộc nổi dậy Dublin, năm 1916: Thắng một trận chiến, mất cả thế giới…

0
106
Một rào chắn đường phố được dựng lên bởi phiến quân ở Dublin trong cuộc nổi dậy
Một rào chắn đường phố được dựng lên bởi phiến quân ở Dublin trong cuộc nổi dậy (Ảnh: wikipedia)

Cuộc nổi dậy Dublin, năm 1916, còn được gọi là Cuộc nổi dậy Phục sinh, là một cuộc nổi dậy vũ trang ở Ireland được các nhà hoạt động Ailen phát động để chấm dứt sự cai trị của Anh ở Ireland và thiết lập một Cộng hòa Ailen độc lập trong Thế chiến thứ nhất. 

Hoàn cảnh lịch sử

Ngày 24 tháng 4 năm 1916 là ngày thứ Hai đầu tiên sau lễ Phục sinh, một ngày nghỉ ở cả vương quốc Anh và Ireland. Trời đã mưa suốt 13 ngày và tới ngày 14 cuối cùng nó cũng tạnh, vì vậy nhiều người Dublin thích ra ngoài phố Sackville để tận hưởng thời tiết đẹp. Thậm chí chẳng người đi dạo nào dừng lại khi một đội hình hàng dọc những người đàn ông và phụ nữ mặc quần áo màu xanh hành quân trên phố. Họ là những người tình nguyện Ireland, và những người tình nguyện vẫn đang hành quân. Những người tình nguyện gần như là đối tượng để đùa cợt đối với hầu hết người Dublin, mặc dù nhiều người nhận thấy rằng khi họ xuất hiện có nghĩa là tình hình rất nghiêm trọng.

Tình hình nghiêm trọng ở đây là vấn đề quyền tự trị. Vương quốc Anh đã suýt phải cho Ireland thành lập một nghị viện riêng khi nam tước Edward Carson – một luật sư người Dublin, người đã chuyển lên miền Bắc – đã thành lập lực lượng tình nguyện của vùng Ulster và đe dọa sẽ có một cuộc nội chiến nếu dự luật Quyền Tự trị trở thành luật. Carson là một tín đồ Tin lành và những người tình nguyện theo đạo Tin lành của ông sợ rằng luật Quyền Tự trị sẽ biến họ thành một tôn giáo thiểu số .

Carson hét lên với những thành viên Ulster của ông: “Quyền tự trị có nghĩa là người La Mã cai trị”. Đồng minh của Carson là Randolph Churchill, tuyên bố ở Luân Đôn: “Ulster sẽ đấu tranh và Ulster sẽ đúng!”.

Để phản đối Carson và những binh lính của ông, những người theo đường lối quốc gia chủ nghĩa Ireland ở phía nam (hầu hết là người theo đạo Thiên chúa giáo) đã tổ chức lực lượng tình nguyện Ireland. Bè đảng của những người theo đường lối quốc gia chủ nghĩa – Mary Spring Rce, nam tước Roger Casement, Conor O’Brien, Alice Stopford Green, và Michael O’Rahilly – được thành lập để mua súng trường cho những người tình nguyện. Tất cả ngoại trừ O’Rahilly – là người theo đạo Tin lành. Để mang những vũ khí vào Ireland, họ tuyển mộ Erskine Childers – một người theo đạo Tin lành. Cả Childers và O’ Brien đều có những con tàu. Họ mua nhiều súng trường lỗi thời của Đức và lén chuyển chúng về. Carson không phải lén mang những súng trường và súng liên thanh hiện đại của lực lượng tình nguyện Ulster vào Ireland. Những quan chức và những sĩ quan quân đội đã lờ đi. Hai ngày sau khi những người tình nguyện Ireland có những khẩu súng trường, Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã bùng nổ.

Vào ngày thứ Hai đầu tiên kể từ sau lễ Phục sinh, những người tình nguyện Ireland đã mang những khẩu súng Mausers cổ bắn từng viên đạn một cùng với nhiều vũ khí khác – một số là vũ khí quân sự, một số là đồ dùng thể thao, hầu hết chúng đã lỗi thời. Nhiều người đi dạo cảm thấy bớt vui khi họ nhìn thấy người đang sải bước với những người tình nguyện, đó là James Connolly và đội quân dân sự của ông. Connolly – một người mập với một bộ ria rậm, là một người lãnh đạo tầng lớp lao động. Sau cuộc đình công ác liệt của những công nhân trong ngành vận tải vào năm 1913, ông đã tổ chức một đội quân dân sự để bảo vệ những người biểu tình trong tương lai khỏi sự đàn áp của cảnh sát. Connolly có vẻ như nghiêm túc hơn so với Padraic Pearse  – người lãnh đạo của lực lượng tình nguyện Ireland. Pearse là một người cao to, ưa nhìn với một mí mắt cụp xuống, tóm lại, ông là một nhà thơ.

Những người chứng kiến sẽ thấy cả hai người nghiêm túc hơn nhiều nếu họ có thể nghe thấy Connolly chào một người bạn khi cuộc hành quân bắt đầu.

Nhà lãnh đạo của người lao động nói: “Bill, chúng ta đang bị hút vào chỗ đối mặt với sự hi sinh”.

 “Chẳng có tia hi vọng nào phải không ?”.

 “Chẳng có chút nào” – Connolly mỉm cười và vỗ vai bạn.

Các thành viên của Quân đội Công dân Ireland bên ngoài Hội trường Tự do , với khẩu hiệu “Chúng tôi không phục vụ Vua hay Kaiser , mà là Ireland” (Ảnh: wikipedia)

700 năm

Người Anh đã ở Ireland một thời gian dài – 700 năm, những người yêu nước Ireland thích nói như vậy. Mặc dù phần lớn thời gian đó, quyền thống trị của Anh ở trên danh nghĩa nhiều hơn là thực tế. Nước Anh chiếm giữ Dublin, ban đầu là một thành phố Na Uy, được xây dựng bởi những cướp biển Bắc Âu và được gọi là Dublin Pale. Cuộc xâm chiếm thực sự của Anh chưa bắt đầu cho đến triều đại Tudor. Thậm chí sau đó, Grace O’Malley – “nữ hoàng cướp biển”, người cai trị vùng bờ biển phía tây của Ireland – có thể nói chuyện với Elizabeth như một người ngang hàng.

Những người của vương triều Tudors đã bắt đầu quá trình thiết lập “những thuộc địa” đạo Tin lành ở Ireland sau những chiến dịch quân sự đặc trưng với những cuộc tàn sát diễn ra thường xuyên. Chẳng hạn khi một pháo đài của những người lính Tây Ban Nha đầu hàng, một sĩ quan trẻ sẽ được ra lệnh chi tiết để chỉ huy cái gọi thẳng ra là “đám giết người”. Anh ta và những người lính của mình sẽ giết tất cả tù binh đã bị tước vũ khí. Tên của anh ta là Walter Raleigh.

Sau đó, cuộc nội chiến đẫm máu giữa những người Bảo hoàng và người theo phái Nghị viện đã làm rung chuyển nước Anh, Scotland và Ireland, khiến tình hình trở nên tồi tệ hơn. Sự thảm sát là thủ tục hoạt động chuẩn cho lực lượng của Cromwell ở Ireland. Những tín đồ Thiên chúa giáo bị đe dọa cho “xuống Địa ngục hoặc đi Connaught” (vùng đầm lầy ảm đạm ở phía tây Ireland). Bộ luật hình sự cấm những tín đồ Thiên chúa giáo thực hiện tôn giáo của họ và cho đến năm 1782, những linh mục tín đồ Thiên chúa giáo bị cấm đặt chân đến Ireland. Hình phạt là cái chết. Không tín đồ Thiên chúa giáo nào có thể sở hữu tài sản trị giá hơn 5 bảng Anh. Ví dụ như một tín đồ Thiên chúa giáo sở hữu một con ngựa quý giá thì tín đồ đạo Tin lành có thể mua nó từ anh ta chỉ với 5 bảng Anh, kể cả nếu người chủ không muốn bán nó.

Ireland đã có nghị viện riêng nhưng chỉ có những người đàn ông giàu có theo đạo Tin lành mới có thể họp ở đó. Chỉ có những người đàn ông giàu có theo đạo Tin lành mới được bầu cho những nghị sĩ. Mặc dù vậy, những người đàn ông giàu có theo đạo Tin lành cũng không vui. Nghị viện Ireland bị hạn chế quyền lực và vương quốc Anh đối xử với nó như một thuộc địa; các doanh nghiệp Ireland cảm thấy bị đè nén.

Ireland đã nổi dậy vào năm 1798. Người Anh đã dập tắt cuộc nổi dậy một cách tàn bạo. Biện pháp hành hình thường được sử dụng là treo cổ và phanh thây, trong đó nạn nhân bị mổ bụng khi còn sống, mặc dù vậy thiêu sống cũng được sử dụng. Để có được thông tin, lính Anh có thể tra tấn mọi người ở một làng, đôi khi đánh cho đến khi họ chết. Một biện pháp khác để có thông tin tình báo là dùng “mũ hắc ín”. Đầu của nạn nhân được che phủ bằng một hỗn hợp nhựa đường và thuốc súng, sau đó được đốt cháy. Mặc dù tiếng khóc thét của nạn nhân có thể đem lại ít thông tin nhưng trường hợp làm gương của anh ta sẽ khiến những người khác khiếp sợ mà cung khai. Kết quả chính của cuộc nổi dậy vào năm 1798 là Ireland mất nghị viện của họ.

Vào thế kỷ XIX, người Anh ngừng treo cổ những linh mục và cho tín đồ Thiên chúa giáo quyền để duy trì những trường học, hành nghề và bỏ phiếu ở những cuộc bầu cử nghị viện. Trong năm 1820, Daniel O’Connell – một luật sư tín đồ Thiên chúa giáo, đã tổ chức những tá điền để bỏ phiếu cho những ứng cử viên mà sẽ giúp họ. Điều đó dẫn tới đạo luật Giải phóng tín đồ Thiên chúa giáo vào năm 1829, tín đồ Thiên chúa giáo đã được vào nghị viện. Tuy nhiên, đại đa số người dân vẫn là những tá điền nghèo khốn khổ bị chúa đất đuổi đi bất kì lúc nào để bán đất cho người trả giá cao nhất. Có nhiều cuộc tranh giành đất đai, bởi vì từ năm 1779 đến năm 1841, dân số của Ireland đã tăng 172 %.

Sau đó đến giữa thế kỷ XIX, khoai tây trở nên khan hiếm. Vì sự thờ ơ của tất cả chính quyền, một triệu rưỡi người đã chết đói trong khi những vùng đất ở Ireland vẫn đang chở lương thực đến nước Anh. Một triệu người khác đã di cư, hầu hết là tới Mỹ. Những dân nhập cư Ireland ở Mỹ, dù nghèo túng theo tiêu chuẩn Mỹ nhưng vẫn giàu có theo tiêu chuẩn Ireland, đã đóng góp cho những phong trào cách mạng, như là phong trảo Fenians[1] vào cuối thế kỷ XIX. Dần dần, chính quyền Anh trở nên rộng rãi hơn. Một tầng lớp trung lưu Ireland bắt đầu phát triển. Charles Stewart Parnell – một nhà chính trị Ireland đã trở thành một người có quyền lực trong nghị viện. Tiếp sau ông, John Redmond đã làm chủ tịch của đảng Ireland. Redmond đã thúc đẩy dự luật về Quyền Tự trị thông qua Hạ viện hai lần chỉ để nó bị phủ quyết bởi Thượng viện. Lần thứ ba, Thượng nghị viện sẽ không có quyền phủ quyết. Sau đó Carson xuất hiện và chiến tranh bùng nổ. Thủ tướng Herbert Asquith đề xuất một luật Tự trị mà sẽ bị hoãn cho đến khi kết thúc chiến tranh, sau đó Ulster có một cơ hội để tách khỏi phần còn lại của Ireland.

Âm mưu phức tạp

Đối với công chúng nước Anh, sự nổi bật của những nhà chính trị, chuyên gia và những tác giả Ireland cho thấy Ireland cuối cùng cũng bị đồng hóa ở vương quốc Anh. Nó là “hòn đảo khác của người Anh” mà thôi.

Điều đó không phù hợp với trường hợp này. Những trí thức tầng lớp trung lưu là những người theo đường lối quốc gia chủ nghĩa đứng đầu ở Ireland. Một số người, như Arthur Griffith – lãnh đạo của đảng Sinn Fein, muốn Ireland theo một chế độ quân chủ lập hiến, dưới quyền vua Anh nhưng tách riêng khỏi vương quốc Anh. Những người khác muốn một nền cộng hoà. Nổi bật giữa họ là Pearse và những nhà thơ bạn của ông. Joseph Plunkett và Thomas MacDonagh, tất cả thành viên của Irish Republican Brotherhood (Tình anh em của những người cộng hòa Ireland, viết tắt là IRB) – một tổ chức bí mật đã công nhận chủ tịch của IRB là tổng thống của Ireland. IRB đã thâm nhập vào vị trí lãnh đạo những người tình nguyện Ireland. Người ủng hộ chế độ cộng hòa khác như những giáo sư Eamon de Valera và Eoin MacNeill cùng nhà lãnh đạo người lao động James Connolly, tuy không phải là những thành viên của IRB nhưng có cùng mục đích. Thực tế, Connolly quá hăng hái ủng hộ nền cộng hoà, đến mức những lãnh đạo IRB lo lắng rằng ông có thể làm hỏng những kế hoạch của họ với một cuộc nổi loạn sớm. Họ bắt cóc ông và thuyết phục ông tham gia cùng họ trong một cuộc nổi dậy lớn mà họ đang lập kế hoạch. Họ nói với Connolly rằng trên khắp đất nước Ireland, những người tình nguyện dưới sự chỉ huy của các sĩ quan IRB sẽ nổi dậy và lật đổ người Anh. Connolly đồng ý tham gia cùng họ.

Cuộc nổi dậy thực sự được lập kế hoạch bởi một nhóm người nắm quyền trong tổ chức của IRB, trong đó Pearse – chủ tịch IRB, là động lực thúc đẩy. Những người lập kế hoạch sợ mật thám, vì vậy họ không thông báo cho tất cả những thành viên trong tổ chức của họ.

Họ dứt khoát không báo cho Macneill – chủ tịch và sĩ quan chỉ huy của lực lượng tình nguyện Ireland, hay O’Rahilly – thủ quỹ của lực lượng tình nguyện. Pearse, với sự tán thành của MacNeill, đã dự kiến một phiên họp về việc huấn luyện trên toàn quốc vào lễ Phục sinh hôm Chủ nhật. Khi những người tình nguyện tham dự, cuộc nổi dậy sẽ bắt đầu.

IRB đã sắp xếp với Roger Casement sang Đức và có một lớn số lượng những súng liên thanh và súng trường lấy được của người Nga. Vũ khí phải được chuyển vào bờ ngày thứ Sáu tuần trước lễ Phục sinh bằng một tàu chuyên chở Đức cải trang thành một con tàu Na Uy. Không may cho những người nổi dậy, người Anh đã chặn con tàu chuyên chở, thuyền trưởng của nó vội vã bỏ trốn. Casement vào Ireland bằng một tàu ngầm Đức và bị bắt giữ ngay ngày hôm sau.

Cũng trong đêm tàu ngầm Đức đến, Bulmer Hobson – một thành viên IRB, không biết về kế hoạch nhưng lại biết được những lệnh bí mật. Ông nói với MacNeill. Không lâu sau, IRB bắt cóc Hobson. Sau đó, O’Rahilly –là thủ lĩnh của một thị tộc trong hạt Kerry – đã biết không chỉ về âm mưu mà cả về vụ bắt cóc Hobson và việc chuyển vũ khí từ Đức vào bị thất bại. Ông gặp Pearse với một khẩu súng lục và thách thức bất cứ ai dám bắt cóc . Sau đó ông tới chỗ MacNeill.

MacNeill nói với những lãnh đạo IRB rằng ông đang hủy bỏ phiên họp về việc huấn luyện. Họ nói với ông rằng đã quá muộn, những mệnh lệnh đã được đưa ra. Tuy nhiên đây là năm 1916 chứ không phải là năm 1798. Thời này đã có điện thoại, ô tô và báo chí của quốc gia. O’Rahilly là một trong số những người đưa tin. Ông mang lệnh hủy bỏ đi qua 6 hạt. MacNeill còn đặt lệnh hủy bỏ như một quảng cáo trên những tờ báo. Ngoại trừ cuộc nổi dậy ở Dublin, chẳng có cuộc nổi dậy nào đáng đề cập đến.

Tình nguyện viên và các thành viên Quân đội Công dân Ailen bên trong Tổng cục Bưu điện, ngày 25 tháng 4 năm 1916. (Ảnh: wikipedia)

Đội quân ủng hộ chế độ cộng hòa Ireland

Ở Dublin, James Connolly không quan tâm nếu những người tình nguyện quá sợ hãi quyết định không nổi dậy. Ông dự đoán có rất ít người của giai cấp tư sản. Nếu cần thiết, Connolly sẽ dẫn quân đội dân sự của mình độc lập chống lại quân đội Anh. Cùng với ông là Countess Constance Markievicz, phó chỉ huy đội quân dân sự. Thành viên của dòng dõi quý tộc Anglo-Ireland đầy quyền lực đã ủng hộ những người theo chủ nghĩa xã hội trong cuộc đình công năm 1913. Bà không bỏ ông  trong “thời điểm vinh quang và khủng khiếp này”.

Connolly và những binh lính của ông sẽ không phải thực hiện nó một mình. Những người tình nguyện, giống như nhà toán học thực nghiệm Eamon de Valera, chắc chắn rằng bây giờ người Anh đã biết về một cuộc nổi dậy đã được lên kế hoạch và họ sẽ trấn áp những người tình nguyện Ireland. Bây giờ, không có sự lựa chọn nào ngoài chiến đấu. Những nhà thơ gồm Pearse, Plunkett và MacDonagh đã có ý tưởng về “sự hi sinh đổ máu” cần thiết để giải phóng Ireland. Họ sẽ hi sinh cuộc sống của mình cho cuộc nổi loạn vô ích này, nhưng máu của họ sẽ truyền cảm hứng cho những người khác lật đổ ách thống trị của nước Anh.

Những người khởi nghĩa tụ họp ở hội trường Liberty, sở chỉ huy công đoàn của Connolly, biểu quyết rằng hiện giờ nước Cộng hoà Ireland đã tồn tại, rằng Padraic Pearse là tổng thống của Ireland và họ là đội quân ủng hộ chế độ Cộng hòa Ireland.

Khi đội hình hàng dọc hành quân cách xa hội trường Liberty, một chiếc ô tô dừng lại ở đằng sau họ. Nhìn lại, họ thấy gương mặt tươi cười của O’Rahilly, đang lái chiếc xe ô tô chở đầy súng trường. O ‘Rahilly -người đã vất vả để ngăn cản cuộc nổi dậy, đã bỏ một gia tài thừa kế, một doanh nghiệp thành công và một gia đình hết lòng yêu thương để gia nhập và thực hiện việc làm táo bạo nguy hiểm này. Sau này ông đã nói: “Đúng vậy, tôi đã giúp vặn dây cót đồng hồ (ông ấy là một trong những người thành lập lực lượng tình nguyện  Ireland) để tôi có thể nghe tiếng nó điểm giờ”.

Đồng hồ điểm giờ

Những người nổi dậy làm theo một kế hoạch được đưa ra bởi Joseph Mary Plunkett – một nhà thơ thuộc dòng dõi quý tộc chưa bao giờ ở trong bất cứ đội quân nào và cũng chưa tham gia bất cứ một cuộc chiến nào. Nhóm chỉ huy đã chiếm Bưu điện trung tâm và những toà nhà bao quanh trong trung tâm thương mại của thành phố Dublin. Tiểu đoàn đầu tiên của Edward Daly đã chiếm Toà án Four Courts, trên bờ bắc của sông Liffey, thiết lập những hàng rào trên Cabra và những con đường phía bắc Circular, một số đoạn đường ở phía bắc trong khu vực dân cư. Tiểu đoàn thứ hai do MacDonagh chỉ huy đã chiếm nhà máy bánh quy của Jacobs. Tiểu đoàn thứ ba của De Valera chiếm tiệm bánh mì của Boland và vài toà nhà gần những doanh trại quân đội Bush của Beggar ở phía đông nam Dublin. Đội quân dân sự đã chiếm phố Stephen’s Green ở giữa tiểu đoàn thứ hai và thứ ba. Ở phía tây nam thành phố Dublin, tiểu đoàn thứ tư của Eamonn Ceant chiếm giữ công đoàn Dublin, một tổ hợp nhà tế bần và bệnh viện tâm thần trong diện tích một ngôi làng

Kế hoạch ban đầu là những người nổi dậy sẽ giữ một “vành đai thép” xung quanh trung tâm thành phố Dublin. Trong khi người Anh đang cố gắng đột nhập, những người tình nguyện ở phía tây sẽ nổi dậy với những vũ khí được cung cấp từ Đức và tiến công những người bao vây. Có một số vấn đề với kế hoạch này, hơn nữa thực tế sẽ không có cuộc nổi dậy ở phía tây.

Một rào chắn đường phố được dựng lên bởi phiến quân ở Dublin trong cuộc nổi dậy
Một rào chắn đường phố được dựng lên bởi phiến quân ở Dublin trong cuộc nổi dậy (Ảnh: wikipedia)

Đầu tiên, họ không có đủ người ở Dublin để chiếm giữ tất cả những cứ điểm mạnh và vào ngày thứ Hai đầu tiên sau lễ Phục sinh thì người Anh ở trong và xung quanh thành phố đông gấp đôi họ. Một tuần sau đó, lợi thế quân số của Anh đã áp đảo.

Thứ hai, bản thân kế hoạch này thật ngớ ngẩn. “Vành đai thép” giống một vành đai pho mát Thụy Sĩ hơn. Người Anh có thể đưa hàng nghìn binh lính qua khu vực giữa những cứ điểm mà ở St. Stephen’s Green không nhìn thấy được. Những “cứ điểm” mà đội quân dân sự chiếm giữ có thể bị quan sát từ những tòa nhà cao tầng. Ngay sau đó, súng liên thanh của quân Anh bắn từ mái nhà và cửa sổ đã đuổi những thành viên quân nổi dậy ra khỏi phố Green.

Cuộc chiến bắt đầu giống như được chỉ huy bởi Mack Sennett. Connolly cử một đội đi chiếm tổng đài. Khi những người trong đội quân dân sự tiến gần đến toà nhà, một phụ nữ ngó ra ngoài toà nhà và hét lên: “Quay lại đi, các chàng trai. Quay lại đi! Nơi đây đầy binh lính”.

Những người nổi dậy rút lui. Rất lâu sau đó, quân đội đã chiếm toà nhà. Kết quả là những người nổi dậy có thể chỉ trao đổi thông tin bằng cách cho người chạy đi đưa tin. Họ tìm cách cắt điện thoại đường dài và cáp điện báo. Nhưng một sĩ quan ở trong lâu đài Dublin đã thay quần áo dân thường và đạp xe đạp tới Kingstown (Dun Laoghaire ngày nay) và cảnh báo Luân Đôn.

Một đội khác của IRA phải làm nổ kho thuốc súng trong công viên Phoenix, nhưng viên sĩ quan chỉ huy đã lấy những chìa khoá kho và đi xem cuộc đua ngựa. Những người ủng hộ chế độ cộng hòa sử dụng quả bom – mà họ mang đến để làm nổ thuốc súng – tiến hành phá vỡ cánh cửa. Cánh cửa vẫn đứng vững. Thay vì một tiếng nổ tuyên bố rằng thành phố Dublin đã nổi dậy, thì chỉ có một tiếng nổ rất nhỏ – nhỏ đến mức không thể nghe thấy ngay cả khi ở cách một quãng ngắn.

Một nhóm những người trong đội quân dân sự đã tiến công những bảo vệ ở lâu đài Dublin – trung tâm của chính quyền Anh. Họ ném bom vào trong đồn bảo vệ. Vụ nổ làm những người lính bảo vệ choáng váng nhưng không giết được ai. Những người nổi dậy trói những lính bảo vệ lại, sau đó sợ rằng tiếng ồn ào của vụ nổ sẽ khiến hàng trăm binh lính kéo ra khỏi lâu đài, nên họ đã rút lui. Thực sự, chỉ có 2 sĩ quan và 25 người lính ở trong lâu đài. Nếu những người nổi dậy tiếp tục, họ có thể đã bắt giữ toàn bộ chính quyền Anh.

Một đội kị binh Anh, hộ tống 5 xe kéo chất đầy súng trường và lựu đạn, đã đi dọc theo những cầu cảng Liffey. Họ cưỡi ngựa vào trong một hàng rào những người IRA đã xây dựng. Những người nổi dậy bắt đầu nổ súng. Những binh lính bắn lại và tìm nơi ẩn nấp ở gần những toà nhà. Những người nổi dậy đã không cố gắng đuổi theo và chiếm lấy những vũ khí cực kì cần thiết.

Người Anh đã biết rõ ràng có lực lượng chống đối ở Dublin. Một nhóm binh lính đánh giáo quyết định rằng tình hình đòi hỏi một cuộc tiến công của kị binh vào Bưu điện trung tâm. Một loạt đạn súng trường từ toà nhà đã giết 4 người lính. Những người còn lại chạy trốn.

Sau đó, cuộc nổi dậy năm 1916 bắt đầu từ bi hài kịch đã thực sự chuyển sang kịch tính khốc liệt. Đại tá H.V. Cowan, phụ tá quản trị trưởng, kêu gọi tất cả những binh lính đến lâu đài Dublin. Hầu hết những binh lính đi tới đó mà không bị lực lượng IRA phát hiện. Tuyến đường bị chiếm giữ bởi trung đoàn quân đội Hoàng gia Ireland do Richmond Barracks chỉ huy, tuy nhiên ngay sau đó họ chiếm phía nam công đoàn Dublin –  do tiểu đoàn thứ tư của Eamonn Ceant giữ. Thay vì tiến công bằng lưỡi lê như những người của Ceant dự đoán thì một hàng rào súng trường và súng liên thanh đã tiến công họ.

Những binh lính Anh (giống như hầu hết những người ở Ireland vào thời điểm này, đông hơn tín đồ Thiên chúa giáo Ireland) đã dồn đội quân Cộng hòa Ireland vào trong một góc nhỏ của khu nhà công đoàn ngổn ngang.

Những người lính ở lâu đài Dublin tiến công những người IRA ở khu vực gần Tòa thị chính của thành phố Dublin. Những người lính chính quy, bắn súng liên thanh và ném lựu đạn cầm tay, đông gấp 7 lần quân nổi dậy. Họ chiến đấu từ tầng này đến tầng khác và chiếm Tòa thị chính, bắt một số phụ nữ và nam giới bị thương. Những người nổi dậy còn lại đã bỏ tấm lưới sắt và trốn thoát vào những cống rãnh của thành phố.

Sáng sớm hôm thứ Ba, chuẩn tướng W.H.M. Lowe đi đến lâu đài Dublin. Phân tích những báo cáo từ chiến trường, Lowe  xác định nơi mà những người nổi dậy đã lẩn trốn. Ông cử binh lính – đến cuối ngày ông có 5000 lính – đi qua những con phố để tập trung vào những vị trí tiến công. Ông có những binh lính khác có kĩ năng gia công kim loại đã bọc sắt hai chiếc xe tải. Ông yêu cầu điều thêm nhiều binh lính và một khẩu đội pháo. Ông cũng yêu cầu hải quân Hoàng gia giúp đỡ. Ông dự định phá vỡ quân nổi dậy bằng cách chiếm bờ phía nam của sông Liffey, sau đó giảm những cứ điểm ở phía nam Dublin, rồi di chuyển tiến công quân nổi dậy ở Bưu điện trung tâm và  Four Courts.

Xe tải bọc thép của Anh, được chế tạo vội vã từ các hộp khói của một số đầu máy hơi nước tại các công trình đường sắt Inchicore . (Ảnh: wikipedia)

Thành phố bị bao vây

Mọi thứ đều yên lặng trong sở chỉ huy IRA sau cuộc tiến công của kị binh vào Bưu điện trung tâm. Connolly đang đọc lệnh cho người thư kí tận tụy là Winifred Carney và để những người chạy bộ chuyển lệnh đi. Pearse đang viết thông cáo để chuyển đến những tòa soạn báo, song lúc này những tờ báo đó đã bị dừng xuất bản. Joseph Plunkett, người rời khỏi giường bệnh để tham gia cuộc hành quân, đã nằm dài trên sàn. Anh đang hấp hối vì bệnh lao.

O’Rahilly đối mặt với Sean MacDiarmida – người mà anh tin rằng phải chịu trách nhiệm cho vụ bắt cóc của Hobson. Macdiarmida nói chính anh đã ra lệnh bắt cóc vì lợi ích của cuộc nổi dậy, mặt khác Hobson vẫn khỏe và an toàn.

O’Rahilly nói: “Nếu ông ấy không được trả tự do tối nay. Tôi không chắc việc tương tự không xảy ra với cậu”.

Macdiarmida bảo một người phụ tá thả Hobson.

Bên ngoài phố, những cư dân ở khu ổ chuột của Dublin đang lợi dụng tình hình và cướp những cửa hàng.

Frank Sheehy-Skeffington tỏ ra sợ hãi. “Skeffy” là người lập dị nổi tiếng nhất ở Dublin – một người theo đường lối quốc gia chủ nghĩa, một người ăn chay, một người ủng hộ quyền đi bầu cử của phụ nữ và một người theo chủ nghĩa hòa bình. Ông lấy một số gậy đi bộ và ra ngoài để tuyển một lực lượng gìn giữ hoà bình được vũ trang bằng gậy để thay thế cảnh sát đã biến mất. Một người lính Anh đã bắt giữ ông. Nhà cầm quyền đã chuẩn bị thả Sheehy-Skeffington thì đại úy J.C. Bowen-Colthurst – con cháu của dòng họ sở hữu lâu đài Blarney, đã tống giam ông.

Bowen-Colthurst đang tiến hành một cuộc chiến của riêng mình và ông muốn Skeffy làm một con tin. Đi cùng với nhà yêu hòa bình này và một đội lính, Bowen-Colthurst gặp hai thanh niên trên đường từ nhà thờ về nhà. Một thanh niên cố gắng bỏ chạy và Bowen-Colthurst ra lệnh cho người lính bắn cậu ta. Sau đó một lát, đi qua một quán rượu, ông quăng lựu đạn cầm tay vào trong quán rượu. Ông bắt giữ bốn người sống sót, tất cả đều là những người ủng hộ liên kết Anh và Ireland. Ngày hôm sau ông cho một tiểu đội bắn họ cùng với Sheehy-Skeffington. Ông đã giết ít nhất hai người nữa vào hôm thứ Tư. Những nhà chức trách ở lâu đài Dublin biết việc Bowen-Colthurst đang thực hiện, nhưng họ không làm gì để ngăn ông. Bowen-Colthurst đã không dừng lại cho đến khi một sĩ quan ở lâu đài Dublin là nam tước Francis Vane, sang Luân Đôn và thuyết phục công tước Kitchner – tổng tư lệnh của quân đội, để hạn chế Bowen-Colthurst.

Vào buổi sáng hôm thứ Ba, James Connolly bị mất một ảo tưởng đáng quý. Anh nghe thấy tiếng pháo. Vốn là người nghiên cứu về triết học, anh tin một cách cứng nhắc rằng chính quyền tư bản sẽ không bao giờ phá hủy tài sản tư nhân. Vậy mà, những khẩu súng đang bắn phá vào hàng rào ở phía bắc thành phố Dublin. Một lát sau, vị trí của de Valera ở tiệm bánh của Boland bị pháo tiến công. De Valera cử một người treo một lá cờ đảng Cộng hoà lên một cái tháp bỏ không cách đó gần 400 mét. Người Anh chuyển hỏa lực của họ sang tiến công ngôi tháp.

Sáng hôm thứ Tư, một con tàu chở đầy những binh lính Anh đến từ nước Anh. Họ mặc quân phục màu xanh như cỏ và không có súng liên thanh lẫn lựu đạn cầm tay. Thậm chí, họ còn không biết mình đang ở đâu. Họ chào những cô gái Ireland bằng tiếng Pháp: “Xin chào các tiểu thư”. Đang hành quân đến trung tâm thương mại Dublin, họ đụng phải 17 người lính IRA do  trung úy Michael Malone chỉ huy. Malone – với một khẩu súng ngắn tự động Mauser và sĩ quan chỉ huy tiểu đội James Grace, với một khẩu súng trường Lee Enfield lấy cắp được từ ngôi nhà ở 25 phố Northumberland bắt đầu nổ súng. Kết quả, 10 người lính – những người ở lực lượng bảo vệ rừng Sherwood đã bị bắn hạ. Sĩ quan chỉ huy của họ là Trung tá Cecil Fane, đã rút gươm và hét lên “Tiến công”. Một viên đạn súng trường từ một vị trí khác của IRA ngay lập tức bắn hạ ông. Lowe, từ lâu đài Dublin, qua điện thoại đã ra lệnh cho lực lượng bảo vệ rừng Sherwood  không được trì hoãn và phải đánh đuổi những người nổi dậy đi. Những người lính trẻ trong lực lượng Sherwood tiến công hết lần này đến lần khác và những nhà thiện xạ Ireland bắn hạ họ theo chuỗi. Cuối cùng những binh lính Anh nhận được súng liên thanh, lựu đạn cầm tay, chất nổ và họ tìm cách chiếm những vị trí của quân nổi dậy. Nhưng vì sự ngớ ngẩn của những sĩ quan chỉ huy Anh, 17 người nổi dậy đã cầm cự với 2 tiểu đoàn bộ binh chính quy trong hơn 8 giờ. Trong số người giết hoặc bị thương, quân Anh mất 230 người, lực lượng IRA mất 8 người.

Chấm dứt cuộc nổi dậy Dublin

Những người lính bảo vệ Bưu điện trung tâm thấy một cảnh tượng lạ. Một thứ trông giống như một chiếc hòm sắt đặt trên những bánh xe đang chậm rãi đi trên phố Sackville. Những viên đạn bật ra từ nó. Cuối cùng, một người tình nguyện đã dừng nó lại bằng cách bắn một viên đạn qua khe hở vào nơi mà anh ta tính toán là chỗ ngồi của người lái xe. Cả hai chiếc xe tải bọc sắt đã chứng tỏ giá trị của chúng, dù không phải là phương tiện chiến đấu nhưng chúng là một phương tiện vận chuyển binh lính dưới tầm hỏa lực. Người Anh đang tiến gần đến Bưu điện trung tâm, nhưng những người bảo vệ Ireland thấy thấp thoáng bong người mặc đồng phục màu kaki. Connolly, ra ngoài để kiểm tra một vị trí ở xa, đã bị một viên đạn của quân Anh bắn trúng mắt cá chân, gần như đã cắt cụt bàn chân. Được đưa trở về bưu điện trung tâm, Connolly – người được Pearse gọi là “đầu não chỉ huy” của chiến dịch, vẫn tiếp tục ra lệnh – mặc dù những lệnh đó không thể truyền đi được.

Pháo binh của quân Anh tiến công dữ dội hơn. Vào hôm thứ Sáu, Bưu điện trung tâm bốc cháy. Ngọn lửa đi không thể kiểm soát được. Những người ủng hộ chế độ Cộng hòa đã sơ tán khỏi sở chỉ huy của họ. Họ đã thả vài tù binh mà họ bắt được và chuyển những người của họ bị thương ra ngoài dưới một lá cờ ra hiệu ngừng bắn.

O’Rahilly cố gắng chỉ huy một cuộc tiến công ồ ạt vào một hàng rào của quân Anh. Hầu hết những người lính của ông đã bị tiêu diệt. Ông bị trúng đạn và đi lảo đảo vào một lề phố. Không thể đứng lên, ông rút một cây bút chì và một tờ giấy lấy của con trai rồi viết ngoáy một bức thư cuối cùng cho người vợ vào phía sau tờ giấy. Sau đó, ông bị chảy máu cho tới lúc chết.

Pearse và một số người khác cố gắng đào một con đường qua những bức tường của những toà nhà liền kề để đi ra sau phòng tuyến của quân Anh. Vào sáng hôm thứ Bảy, khi Pearse đang bàn về cách rời khỏi thành phố thì anh thấy một gia đình thường dân. Người đàn ông là Robert Dillon, là chủ một quán rượu mà cả quán và nhà của ông đã bị cháy sạch. Ông ấy vẫy một lá cờ trắng khi ông cùng vợ và con gái tiến gần đến hàng rào của quân Anh. Những người lính đã bắn hạ tất cả bọn họ.

Pearse hỏi những sĩ quan khác: “Việc rút lui sẽ không ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân chứ? Bất cứ con đường nào mà chúng ta đi chắc chắn sẽ không đi qua những quận đông dân phải không?”. Mọi người đều đồng ý rằng họ sẽ không đi qua những quận đông dân.

Pearse ra lệnh: “Trong trường hợp đó, anh sẽ ban hành lệnh ngừng bắn kéo dài trong một giờ nữa”.

Trong suốt thời gian ngừng bắn, Pearse cố gắng sắp xếp để đầu hàng. Quân Anh không đưa ra bất kì một điều khoản nào, ngoài yêu cầu đầu hàng vô điều kiện. Pearse đã đầu hàng.

Những người lính Anh ở vị trí đằng sau một đống thùng trong cuộc nổi dậy ở Dublin
Những người lính Anh ở vị trí đằng sau một đống thùng trong cuộc nổi dậy ở Dublin (Ảnh: wikipedia)

Thắng một trận chiến, thua một cuộc chiến…

Những người nổi dậy là những anh hùng gần như không được mến mộ. Nhiều người dân Dublin đã kiệt sức, tất cả bọn họ không thể mua thực phẩm hay những thứ thiết yếu khác vào tuần trước, đã tham gia ném rác vào những tù nhân.

Nam tước John Maxwell – sĩ quan chỉ huy mới của Anh – đã công bố tình trạng thiết quân luật. Sau một tòa án quân sự bí mật, ông đã cho xử bắn những người lãnh đạo cuộc nổi dậy, 2 hoặc 3 người cùng một lúc. Ông tập trung những người Ireland, trong số đó có một số người ủng hộ liên kết Anh và Ireland và đưa họ về giam giữ ở nước Anh. Và ông cố gắng che đậy sự tàn bạo mà lực lượng Anh đã gây ra. Ông đuổi Francis Vane – người đã thông báo việc làm sai trái của Bowen-Colthurst, ra khỏi lực lượng vũ trang. Ông phủ nhận việc những binh lính của ông đã tàn sát những dân thường vô tội tại khu vực North King Street – ngay cả sau khi những xác chết dân thường được chôn cất vội vàng với bàn tay vẫn bị trói chặt và vết thương do đạn bắn vào lưng, được phát hiện.

Việc hành hình vẫn tiếp tục. Plunkett đang hấp hối đã kết hôn ngay trước khi bị bắn. Connolly, đang chết dần vì chứng hoại tử, bị buộc ở một chiếc ghế để cho một tiểu đội bắn. Ông ấy nói với con gái rằng ông quan tâm đến việc những người bạn của ông sẽ không hiểu tại sao ông lại tham gia vào một cuộc nổi dậy của những người theo chủ nghĩa dân tộc. Ông nói: “Tất cả bọn họ sẽ quên rằng tôi là một người Ireland”.

…Và mất một thế giới

 Những người đồng hương của Connolly đã nhớ rằng họ là người Ireland. Quan sát Maxwell họ nhận ra rằng họ sẽ không bao giờ có được tự do thực sự dưới sự thống trị của Anh. Trước “Cuộc nổi dậy”, đảng Sinn Fein đã được xem là thành phần cực đoan quá khích. Tuy nhiên, trong mỗi cuộc bầu cử bổ sung vào Nghị viện sau đó, đảng Sinn Fein đã giành được nhiều chiến thắng. Sau cuộc bầu cử vào năm 1918, Sinn Fein kiểm soát gần như tất cả số ghế trong nghị viện Ireland.

Những nghị sĩ Ireland từ chối sang Luân Đôn. Họ thiết lập chính quyền riêng trong thành phố Dublin, với tổng thống Eamon de Valera của Dail Eireann, hay Nghị viện Cộng hòa Ireland. De Valera đã sống sót trong cuộc hành hình bởi vì được sinh ở Mỹ, ông được coi là một công dân Mỹ. Những người Anh cố gắng trấn áp chính quyền mới. Tuy nhiên những người Ireland đã đưa ra điều mới mẻ trong hoạt động chính trị thế giới. Họ đã chứng tỏ một sự kết hợp cuộc chiến tranh của những người ở tầng lớp dưới, được chỉ huy bởi Michael Collins – một người sống sót trong cuộc nổi dậy; và việc tăng cường thông tin tuyên truyền được chỉ huy bởi Erskine Childers – người đã mua súng trường từ Đức, có thể có thể khiến một đất nước nhỏ, yếu tự giải phóng chính nó khỏi sự thống trị của một cường quốc lớn.

Một người đã chăm chú theo dõi tiến trình của cuộc nổi dậy ở Ireland chính là phụ tá của một thợ chụp ảnh ở Paris, ông được người Việt Nam gọi là Nguyễn Ái Quốc. Sau này, ông trở nên nổi tiếng với cái tên Hồ Chí Minh.

Tất nhiên, Hồ Chí Minh là một trong số những nhà lãnh đạo cách mạng tiềm tàng đã được truyền cảm hứng bởi tấm gương của những người Ireland. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, dường như hàng triệu người đã đứng lên ở châu Á và châu Phi. Tất nhiên, người thua cuộc lớn nhất là nước thực dân lớn nhất – đó là vương quốc Anh.

Một cuộc nổi dậy thất bại vào năm 1916 – một sự kiện nhỏ trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất – đã bắt đầu một chuỗi những sự kiện làm thay đổi hoàn toàn thế giới.

William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

Ghi chú:

[1] Fenians: tổ chức cách mạng của người Ireland ở Mỹ thành lập năm 1858, nhằm lật đổ sự thống trị Anh ở Ireland.

Xem thêm:

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây