Bao giờ Việt Nam có người đoạt Giải Nobel Văn chương?

0
348

Bao giờ Việt Nam có Giải Nobel Văn chương? Câu hỏi này được đặt ra như là sự tất yếu đối với mọi người Việt Nam yêu văn chương. Nhưng để trả lời nó thì thật là khó. Nhưng dẫu sao câu hỏi đưa ra cũng là thể hiện một tấm lòng mong muốn. Và muốn là được, như người Pháp thường nói. Còn bao giờ được thì cần đến rất nhiều sự phấn đấu có ý thức của chúng ta.

Người Việt Nam từ lâu đã rất quan tâm đến những tác phẩm đoạt Giải Nobel. Trước đây, chúng ta đã dịch, giới thiệu nhiều tác phẩm, tác giả được vinh dự này. Ở Sài Gòn trước 1975 có chuyên san Văn đã làm việc này. Gần đây, việc dịch và giới thiệu các tác phẩm và nhà văn được giải thưởng Nobel được chú ý trên tuần báo Văn nghệ và tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam, trên trang văn học điện tử eVan, một số trang web văn học bằng tiếng Việt ở hải ngoại và đặc biệt trong chuyên trang Văn hóa của website VietNamNet. Một số nhà xuất bản đã tuyển chọn in thành bộ sách truyện ngắn của các nhà văn được Giải Nobel. Cho đến nay, những tác giả đoạt Giải Nobel Văn học được dịch, giới thiệu nhiều nhất ở Việt Nam (gần như tất cả các tác phẩm chính) có thể kể P. Buck, A. Camus, E. Hemingway, R. Tagore, M. Solokhov và G. Garcia Marquez. Bên cạnh đó, có những nhà văn được Giải Nobel rất nổi tiếng, được dịch rất nhiều trên thế giới nhưng chưa hề được dịch hoặc dịch rất ít sang tiếng Việt, chỉ lẻ tẻ một vài truyện ngắn, bài thơ. Điều này có nhiều lí do. Có sự hấp dẫn bởi tư tưởng nghệ thuật. Có nhu cầu do thời thượng. Nhưng có khi chỉ do sự yêu thích của dịch giả đối với nhà văn đó… Bởi thế, đã đến lúc, chúng ta phải giới thiệu vấn đề này một cách hệ thống và chuyên sâu. Đặc biệt là cần có những bài nghiên cứu sâu, kĩ của các nhà khoa học về những nhà văn đoạt giải và tác phẩm của họ.

Nam Cao là tác giả Việt Nam đầu tiên đã từng mơ về giải Nobel văn chương, tuy nhiên ông đã mất sớm khi chưa có tác phẩm lớn nào
Nam Cao là tác giả Việt Nam đầu tiên đã từng mơ về giải Nobel văn chương, tuy nhiên ông đã mất sớm khi chưa có tác phẩm lớn nào

Càng viết nhiều về Giải Nobel thì càng kích thích thêm tham vọng đoạt giải. Nhà văn Việt Nam đầu tiên, theo chỗ chúng tôi biết, có những suy nghĩ và thể hiện tham vọng này là Nam Cao. Trong truyện ngắn Đời thừa đăng tải trên Tiểu thuyết thứ 7 năm 1943, Nam Cao đã để cho nhân vật văn sĩ Hộ nói giùm tâm sự của mình, nhân có cuốn Đường về nào đó được dịch ra tiếng Anh: “Cuốn Đường về chỉ có giá trị địa phương thôi, các anh có hiểu không? Người ta dịch nó vì muốn biết phong tục của mọi nơi. Nó chỉ tả được cái bề ngoài của xã hội. Tôi cho là xoàng lắm! Một tác phẩm thật có giá trị, phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi, nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bằng. Nó làm cho người gần người hơn, như thế mới thật là một tác phẩm hay, các anh có hiểu không? Tôi chưa thất vọng đâu! Rồi các anh xem. Cả một đời tôi, tôi sẽ chỉ viết một quyển thôi, nhưng quyển ấy sẽ ăn Giải Nobel và dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên hoàn cầu”.

Chỉ trong một bộc bạch ngắn mà Nam Cao đã trình ra đầy đủ các điều kiện của một tác phẩm hoặc một nhà văn ứng viên cho Giải Nobel. Trước hết tác phẩm đó phải thuộc về một quốc gia – dân tộc, thuộc về một tộc người cụ thể, nghĩa là phải mang được bản sắc của tộc người đó, của dân tộc đó. Có như vậy tác phẩm mới sống động, mới hấp dẫn. Nhưng nếu dừng ở đó thì sự hấp dẫn đó chỉ là sự hấp dẫn của chất liệu, sự hấp dẫn bởi tính chuộng lạ (exotique). Cần phải vượt qua chất liệu để đến với nghệ thuật, vượt qua dân tộc để đến với cả loài người. Chỉ có đứng cùng một mặt bằng, ít nhất về tầm tư tưởng, với thế giới thì văn chương Việt Nam mới quan tâm đến những vấn đề mà thế giới đang suy nghĩ. Và, cũng chính vì thế, mà thế giới quan tâm lại và suy nghĩ cùng với văn chương Việt Nam. Sự tương thông này là bước khởi đầu, là tiền đề đi đến Giải Nobel. Văn chương Việt Nam hiện nay còn đang trên hành trình đi đến hội nhập với thế giới. Nhưng quy luật nào cũng có ngoại lệ. Đứng về cả nền văn học mà nói, đặc biệt từ góc độ lí thuyết, thì văn chương Việt Nam còn có thể có những hạn chế này khác, nhưng với từng cá nhân nhà văn thì lại khác. Vấn đề là tài năng. Tài năng, bao giờ cũng biết vượt qua những giới hạn và khuôn khổ. Mà ở Việt Nam thì “hào kiệt” thời nào cũng có!

Nhưng tài năng Việt Nam mặc dù đầy trực giác nhạy cảm nhưng cũng có hạn chế là thường chỉ chói sáng một lần. Những nhà thơ một bài (hay một tập) và những nhà văn của một tác phẩm không phải là hiếm. Ít có nhà văn có hẳn một sự nghiệp đồ sộ, một hệ thống tác phẩm nhất quán để “ba cây chụm lại thành hòn núi cao”. Điều này là một bất lợi cho những nhà văn Việt Nam một khi trở thành ứng viên của Giải Nobel, bởi lẽ giải này thường trao cho một sự nghiệp văn chương chứ không phải một tác phẩm duy nhất. Gần đây, Giải Nobel có vẻ như có xu hướng trao cho một tác phẩm của nhà văn, trường hợp Linh sơn của Cao Hành Kiện hoặc Không số phận của Imre Kertész chẳng hạn. Nếu đây là đúng thì cũng thêm một hi vọng cho các nhà văn chúng ta.

Nguyễn Tuân là một nhà văn tài hoa, tuy nhiên tác phẩm của ông vẫn chưa đủ lớn để đoạt giải

Nếu chúng ta đặt một câu hỏi giả tưởng là trong văn chương Việt Nam thế kỉ XX “nhà văn nào có khả năng được Giải Nobel hơn cả?” thì ngay lập tức, người ta có thể nghĩ đến Nguyễn Tuân. Ông là một nhà văn tài hoa, một bậc thầy ngôn ngữ. Và, quan trọng hơn, đến nay đọc ông vẫn còn thấy mới mẻ. Nghĩa là ông vẫn còn có khả năng đồng hành với chúng ta vào thế kỉ mới. Tuy nhiên, Nguyễn Tuân chưa có tác phẩm lớn, đạt đến tầm tư tưởng của thế giới hiện đại. Cái ngông, chủ nghĩa xê dịch và thế giới đồ vật ở các truyện ngắn và tùy bút tài hoa của Nguyễn Tuân dường như chỉ là ảnh xạ của những cơn mưa đằng Tây. Một người khác có triển vọng hơn là nhà tiểu thuyết tài danh Vũ Trọng Phụng. Giông tố, Vỡ đê và đặc biệt Số đỏ của ông là kiệt tác của tiểu thuyết Việt Nam. Cái lớn của Số đỏ không chỉ ở chỗ phản ánh được sự nhố nhăng của xã hội Việt Nam thuộc địa ở vào giai đoạn Âu hóa (tức hiện đại hóa), mà còn là một cái cười dài vào ảo tưởng giành được hạnh phúc nhờ may mắn của tư tưởng tiểu nông có từ thời Trạng Lợn. Nhưng ở Vũ Trọng Phụng, cũng như ở Nguyễn Tuân, đằng sau họ hình như còn thấp thoáng những khuôn mặt nhà văn khác của thế giới. Có lẽ, chỉ còn lại Nam Cao với tiểu thuyết hiện đại Sống mòn, truyện vừa anh tài Chí Phèo và các truyện ngắn đặc sắc khác. Sáng tác của Nam Cao có sự nhất quán cao độ. Với một thứ tiếng Việt thuần khiết và trí tuệ, ông đã đụng đến những vấn đề vừa thời sự vừa muôn thuở là cái đói (cả vật chất lẫn tinh thần), nhân cách, đặc biệt là nhân cách trí thức.

Đáng tiếc là những nhà văn kể trên đều là những người thiên cổ. Mà Giải Nobel lại không trao cho những người đã chết. Chúng ta đặt hi vọng vào những nhà văn hiện đang cầm bút…

Một điều khó khăn nữa cho một Giải Nobel Việt Nam là tác phẩm của chúng ta viết bằng tiếng Việt. Mặc dù đây là một ngôn ngữ tuyệt vời và là tiếng mẹ đẻ (hoặc tiếng phổ thông) của hơn 80 triệu người, nhưng thế giới vẫn còn ít biết đến. Và để có thể cập nhật và cập thế giới, nhất là để cho những người giới thiệu và thành viên Ủy bản xét giải có thể đọc được, nó phải được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức… là những ngôn ngữ thông dụng hơn, để sớm hòa nhập vào dòng chảy của văn chương thế giới. Trông chờ vào sự hữu xạ tự nhiên hương khiến các dịch giả ngoại quốc phải dịch chỉ là một phần. Phần khác, quan trọng hơn, các nhà nghiên cứu, hoạt động văn hóa, văn học Việt Nam phải chủ động tổ chức việc giới thiệu và dịch từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài. Việc này đòi hỏi phải có nỗ lực đầu tư công sức, trí tuệ của các cá nhân người Việt yêu trọng văn chương Việt, cũng như của các tổ chức hữu quan từ phía nhà nước.

Trong khi chờ đợi một nhà văn Việt Nam đoạt Giải Nobel, việc quan trọng mà người Việt Nam chúng ta, nhất là thế hệ trẻ, cần làm và có thể làm được ngay, là viết những tác phẩm tầm cỡ thế giới!

Nguồn: TTVHNN Đông Tây

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây