2 lương y tài đức kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam

221

“Lương y như từ mẫu”. Đó là câu nói thật xứng đáng cho những con người không chỉ lấy tài năng chữa bệnh cho người đời mà còn dùng cả cái tâm thiện lương sâu thẳm từ trái tim của bản thân để nhất tâm cứu người. Những con người ấy mãi để lại hương thơm vượt thời gian, năm tháng, bất biến trong lòng người dân Việt Nam và thế giới. Cùng xem 2 đại thần y kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam

Tuệ Tĩnh thiền sư – ông Thánh thuốc Nam

Tuệ Tĩnh thiền sư
Tuệ Tĩnh thiền sư

Nhắc đến cái tên Tuệ Tĩnh , không ít những người con xứ Hải Dương khỏi tự hào vì miền đất đã sinh ra người lương y vào thế kỷ 14. Sớm mồ côi cha mẹ, Tuệ Tĩnh với nguyên danh là Nguyễn Bá Tĩnh, 6 tuổi ông được nuôi bởi các nhà sư tại chùa Hải Triều và chùa Giao Thủy. Vốn trí huệ hơn người ông đậu Thái học sinh dưới triều vua Trần Dụ Tông khi năm 22 tuổi, nhưng ông đã bỏ qua danh lợi, không làm quan mà ở lại chùa đi tu lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh.

Với những ngày tháng đi tu trong chùa, Tuệ Tĩnh đã đành trọn tâm sức của mình để nghiên cứu về thuốc, làm thuốc và chữa bệnh cứu người. Không chỉ dùng chính bàn tay mình để trồng cây thuốc , tự làm thuốc, đặc biệt là những bài thuốc dân gian, ông còn huấn luyện y học cho những tăng đồ trong chùa cùng nhau học hỏi dùng tâm huyết để giúp đỡ những người dân nghèo khó bệnh tật. Ông còn tổng hợp y dược dân tộc cổ truyền đúc kết lại thành những bộ sách vô cùng giá trị cho hậu thế. Có thể kể tới Nam dược thần hiệu, Hồng nghĩa giác tư y thư, bài “Phú quốc nam” …những tác phẩm đã thêm cả những giá trị cho văn học thơ Nôm thời kỳ đầu.

Tuệ Tĩnh có một câu nói thể hiện một quan điểm đầy biện chứng về mối quan hệ mật thiết giữa con người Việt và môi trường Việt : “Nam dược trị Nam nhân”. Từ đó ông xây dựng một quan điểm y học độc lập, tự chủ, sát với thực tế Việt Nam để rồi quan điểm ấy dẫn dắt ông lên ngôi vị cao nhất của nền y học cổ truyền Việt Nam: “Ông Thánh thuốc Nam”.

Điểm làm cho ông khác biệt với các danh y cùng thời là: trong các trước các của mình ông không hề dập khuôn lại khuôn mẫu của những người đi trước, ông không đưa kim – mộc – thủy – hỏa – thổ lên đầu mà xếp các cây cỏ – những sinh mệnh gần gũi với con người nhất – lên hàng đầu. Ông hoàn toàn phê phán tư tưởng dị đoan của những người chỉ tin vào phù chú mà không tin vào thuốc, đồng thời ông cũng nêu ra các phương pháp khác nhau để chữa bệnh như châm, chích, chờm, xoa, bóp, hơ, xông, ăn, uống…

Không dừng lại ở vị trí một thầy thuốc, Tuệ Tĩnh còn xây dựng cho người dân tư tưởng “phòng bệnh trước chữa bệnh”, ông truyền bá phương pháp vệ sinh, nhắc nhở mọi người chú ý nguyên nhân gây bệnh và tìm biện pháp phòng bệnh tích cực. Đặc biệt ông rất nhấn mạnh việc rèn luyện thân thể, sinh hoạt điều độ, tu thân dưỡng tính mà được ông tóm gọn trong 14 chữ mang giá trị sâu sắc :

Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần

Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện mình

Người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp

Không chỉ  bằng lời nói, người đời còn thấy rõ uy đức của ông, biết ơn ông khi lương y giúp dân xây dựng 24 ngôi chùa, biến các chùa này thành y xá chữa bệnh. Ông đã tập hợp được 182 chứng bệnh được chữa bằng 3873 phương thuốc được lưu lại cho hâu nhân.

Số phận người lương y quả trớ trêu khi ông – đến cái tuổi xế chiều 55 – với trí huệ uyên bác trong ngành y thuật của mình, ông bị cống cho triều đình nhà Minh bên Trung Quốc năm 1690  và đã qua đời tại đất khách quê người. Đau đáu nỗi niềm trở về quê hương với dòng chữ vẫn còn khắc trên bia mộ ông: “Ai về nước Nam cho tôi về với”, lương y đã được một tiến sĩ hoàn thành tâm nguyện khi vị tiến sĩ cùng quê tình cờ bắt gặp lời nhắn gửi thiết tha của vị danh y :Tuệ Tĩnh thiền sư.

Hải Thượng Lãn Ông

Hải thượng lãn ông

Kế thừa sự nghiệp “Nam dược trị Nam nhân” của Tuệ Tĩnh thiền sư, Lê Hữu Trác với hiệu danh Hải Thượng Lãn Ông là một đại danh y có đóng góp to lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam thế kỷ 18.

Ông sinh năm Canh Tý (1720) tại trấn Hải Dương bấy giờ (nay thuộc tỉnh Hưng Yên), thân sinh trong một dòng tộc truyền thống khoa bảng, ông nội, bác, chú, anh em đều đỗ tiến sĩ và làm quan to, cha ông là tiến sĩ Lê Hữu Mưu và mẹ là bà Bùi Thị Thưởng. Sau tuổi 26 cuộc đời ông gắn bó tại trấn Nghệ An (nay thuộc Hà Tĩnh tỉnh).

Năm Kỷ Mùi (1739), cha Lê Hữu Trác mất (khi vẫn giữ chức Ngự sử, tước Bá dưới triều Lê Dụ Tông) đã được truy tặng hàm Thượng thư. Lê Hữu Trác phải rời kinh thành về quê nhà vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, mong để nối nghiệp gia đình, lấy đường khoa cử để tiến thân, khi ấy ông vừa tròn tuổi 20. Thời bấy giờ, xã hội rối ren, các phong trào nông dân nổi dậy khắp nơi thôi thúc ông nghiên cứu thêm binh thư và võ nghệ rồi vài năm sau “mới theo gươm tòng quân để thí nghiệm sức học của mình” ( Tựa “ Tâm lĩnh” ). Nhưng chẳng bao lâu sau thời gian “thí nghiệm” của mình ông nhận ra rằng xã hội thối nát, chiến tranh chỉ tàn phá và gây biết bao đau thương cho người dân, làm ông chỉ muốn xa rời quân đội. Sau nhiều lần từ chối đề bạt đến năm 1746, nhân khi người anh tại Hà Tĩnh mất, ông liền viện cớ về quê nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh, để xin ra khỏi quân đội, thực sự “bẻ tên cởi giáp”, theo chí hướng mới – nghề thuốc.

Cái duyên với nghề thuốc bắt nguồn từ trận ốm sinh tử hai năm dai dẳng của ông sau khi giải ngũ về quê gánh vác chuyện gia đình cũng như đặt nhiều tâm lực cày sớm khuya đèn sách. Được lão bậc nho người Nghệ An – lương y Trần Độc nhiệt tình chữa khỏi và truyền cho ông hết những hiểu biết về y học, Lê Hữu Trác nhất tâm theo học. Vốn là người thông minh, học rộng tài cao, ông mau chóng hiểu sâu ý lý, càng say mê đọc sách ông càng nhận ra rằng nghề y không chỉ giúp ích cho mình mà còn có thể giúp ích cho người đời, nên ông quyết chí theo học.

Tại Hương Sơn – Hà Tĩnh ông làm nhà cạnh rừng đặt tên hiệu cho mình là “Hải Thượng Lãn Ông”. Hải Thượng là hai chữ đầu của tỉnh Hải Dương và phủ  Thượng Hồng quê cha và cũng là xã Thượng Bầu quê mẹ. “Lãn Ông” nghĩa là “ông lười”, chữ lười ấy mang một ngụ ý to lớn và sâu sắc, chỉ sự chán ghét công danh đấu đá, tự giải phóng bản thân khỏi sự giàng buộc của danh lợi, của quyền thế để được tự do nghiên cứu và theo đuổi chí hướng y học của bản thân mình.

Mấy chục năm tâm huyết với nghề , Hải Thượng Lãn Ông đã rất thành công thông qua việc nghiên cứu sâu sắc các kinh điển y học của Trung Quốc cũng như Việt Nam. Từ Nội Kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim quỹ…cho tới các danh tác y học cổ truyền dân tộc Việt, kết hợp với những kinh nghiệm chữa bệnh thực tế phong phú của mình, ông đã hệ thống hóa thành những tinh hoa đầy sáng tạo để rồi đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc. “Y tôn tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển chính là tâm huyết ấy – gồm đầy đủ các mặt về y học từ Y Đức, Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Nó không chỉ bao trọn thủ pháp chữa bệnh cứu người của một danh y mà còn chứa chất nỗi lòng của một lương y – thông qua đó giúp con người tu dưỡng đạo đức, cải biến nhân tâm để làm người tốt, hạn chế tạo nghiệp tự gây sóng gió và bệnh tật trên đường đời.

Ông hoàn thành việc in chế tác “Tâm lĩnh” của mình trong lần gượng nhận chiếu chỉ của chúa Trịnh, từ giã gia đình và học trò rời quê lên kinh thành. Phục vụ chúa không phải mục đích vậy nên ông đã chối từ mọi bổng lộc, lính hầu mà chúa Trịnh Sâm ban tặng để trọ ở ngoài. Hơn nữa, là người không để tâm tiền tài danh lợi, để sớm thoát khỏi vòng cương tỏa của quyền thần, danh lợi nơi quan trường ông đã không thật nhiệt tình chữa bệnh cho vua chúa. Vốn bậc chính nhân, ông cũng không thèm để ý chuyện bọn ngự y trong cung ghen tị với mình không chịu chữa theo đơn của ông lãn làm thế tử Trịnh Sâm không khỏi bệnh. Sau nhiều lần xin về thăm cố hương, mãi tới tháng 9 năm 1782, Trịnh Sâm mới cho phép ông về.

Không lâu sau, chúa Trịnh lại ốm nặng, Hải Thượng Lãn Ông lại được triệu vào cung chữa trị cho chúa khỏi bệnh và rồi phải miễn cưỡng chữa bệnh cho Trịnh Cán. Sau khi chữa khỏi bệnh cho chúa, được trọng thưởng ông buộc phải nhận nhưng lòng vẫn kiên tịnh ý chí của một quân tử: “Mình tuy không phải đã bỏ quên việc ẩn cư, nhưng nay hãy tạm nhận phần thưởng rồi sau vứt đi cũng được” (Thượng kinh ký sự). Cuối cùng chúa Trịnh mất, thế tử lên thay, nhân có người tiến cử một lương y mới vào cung, ông viện cớ người nhà ốm rồi rời cung, trở lại cố hương.

Từ biệt cuộc sống xa hoa chốn  kinh đô, Hải Thượng Lãn Ông nuôi dưỡng tuổi già của mình với việc chữa bệnh, dạy học và tiếp tục chỉnh lý, bổ sung cho các chế tác mang đầy tâm huyết  cứu người của mình.

Trải qua biết bao thế kỷ, những con người được nhân loại tôn kính là lương y ấy, họ sẽ mãi ở lại, lưu dấu trong tâm người Việt về tài năng, đức độ của đấng lương tài.

Nguyệt Hà/DKN

Xem thêm: Đại thần y Tôn Tư Mạc: Trọng đức còn hiệu quả hơn cả tiên đan